- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị T- Dương Phúc T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Triệu Thị T và anh Dương Phúc T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 16/2019/HNGĐ-ST Ngày 21-11-2019 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần ội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nông Văn Bằng
Ông Hoàng Văn Đạo
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hà Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2019 về vụ xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXX-ST ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị T, sinh năm 1972.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T1, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Dương Phúc T, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Thị T trình bày:
Chị Triệu Thị T với anh Dương Phúc T về chung sống với nhau vào năm 1993, trước khi về chung sống cùng nhau anh chị không được tìm hiểu mà do bố mẹ hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi cho theo phong tục tập quán của địa phương. Chị T và anh T về chung sống với nhau từ năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường. Sau khi sinh con thứ hai thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T và gia đình bố mẹ đẻ của anh T nói chị T không biết đẻ con trai, gia đình nhà chồng luôn hắt hủi chị và vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đến năm 2014, chị T bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay, không ai còn quan tâm gì đến nhau. Hiện nay chị Triệu Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Dương Phúc T.
Về con chung: Có 02 người con chung tên là Dương Thị S, sinh ngày 20/4/1994 và Dương Thị Q, sinh ngày 18/10/1999, hiện nay các cháu đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Dương Phúc T mặc dù vẫn cư trú tại địa phương, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, anh Dương Phúc T vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng mà không có lý do.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn anh Dương Phúc T không đến Tòa án tham gia vào quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Triệu Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chị Triệu Thị T đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn anh Dương Phúc T vắng mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không công nhận chị Triệu Thị T và anh Dương Phúc T là vợ chồng. Về con chung: Có 02 người con chung tên là Dương Thị Sơn, sinh ngày 20/4/1994 và Dương Thị Quỳnh, sinh ngày 18/10/1999, hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Triệu Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Phúc T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn B, xã C, huyện B. Do đó, căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Anh Dương Phúc T vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần hai không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Phúc T là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về tình cảm: Chị Triệu Thị T và anh Dương Phúc T chung sống với nhau và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương từ năm 1993. Chị Triệu Thị T cho rằng vợ chồng anh chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá trình giải quyết vụ án anh Dương Phúc T vắng mặt nên không có ý kiến. Ngày 18 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện B đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Chiến Thắng, huyện B. Kết quả xác minh, đại diện Ủy ban nhân dân xã Chiến Thắng, huyện B cho biết qua kiểm tra sổ Đăng ký kết hôn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã Chiến Thắng, huyện B từ trước đến nay, không có trường hợp đăng ký kết hôn của chị Triệu Thị T với anh Dương Phúc T. Vì vậy, chị Triệu Thị T và anh Dương Phúc T không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày luật này có hiệu lực pháp luật thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; ... Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định trên và khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, không công nhận chị Triệu Thị T và anh Dương Phúc T là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Triệu Thị T trình bày chị và anh Dương Phúc T có hai người con chung tên là Dương Thị Sơn, sinh ngày 20/4/1994 và Dương Thị Quỳnh, sinh ngày 18/10/1999, hiện nay các cháu đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Dương Phúc T vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về tài sản chung: Chị Triệu Thị T trình bày là không yêu cầu Tòa án giải quyết, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Dương Phúc T vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung của vợ chồng: Chị Triệu Thị T trình bày là không có, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Dương Phúc T vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Triệu Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Triệu Thị T và anh Dương Phúc T là vợ chồng.
2. Về con chung: Có hai người con chung tên là Dương Thị S, sinh ngày 20/4/1994 và Dương Thị Q, sinh ngày 18/10/1999, hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không xem xét giải quyết
4. Về án phí: Chị Triệu Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị Triệu Thị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2015/0000224 ngày 03/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Triệu Thị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Dương Phúc T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Ngọc |