- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST Ngày 09 -4-2019 “V/v Ly hôn giữa chị H và anh K”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Duyên
2. Ông Bùi Minh Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 258/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang . (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn A Ly K, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Trần Thị Kim H trình bày như sau:
Chị H và anh K chung sống với nhau vào năm 2013 nhưng không tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến ngày 18/02/2014 anh chị đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian khoảng 03 năm và phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2017, nguyên nhân do anh K không lo tu chí làm ăn mà tham gia tệ nạn xã hội như đánh bạc, đánh số, cặp bồ và bỏ bê vợ con. Khi vợ khuyên ngăn thì anh K không từ bỏ mà còn kêu vợ phải cắt đứt quan hệ với cha mẹ ruột của mình. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên vợ chồng đã ly thân với nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay và trong khoảng thời gian này anh K không còn tới lui thăm nom vợ con. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị H xin ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy K1, sinh ngày 19/7/2014. Chị H có nguyện vọng được nuôi con chung sau khi vợ chồng ly hôn và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H tự thỏa thuận với chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay chị H tiếp tục xin ly hôn với anh K, xin được quyền nuôi con mà không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung xác định vợ chồng không có nợ chung.
Quá trình làm việc tòa Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Nguyễn Văn A Ly K vắng mặt không gửi nên bản nêu ý kiến trước yêu câu xin ly hôn của chị H.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 02 Giấy chứng nhận kết hôn; trích lục khai sinh của cháu Nguyễn Duy K1 (Bản phô tô công chứng); giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (Bản công chứng). Bị đơn không cung cấp gì thêm.
Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng chị H và anh K xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Vợ chồng anh chị đã ly thân khoảng một năm nay. Sau khi anh chị ly thân con ở với mẹ có cuộc sống sinh hoạt bình thường.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (Nguyên đơn) đảm bảo đúng theo quy định, đề nghị áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn với anh K; đề nghị áp dụng Điều 81 Bộ luật tố tụng dân sự giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H và anh K cùng có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa anh K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh K.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ pháp luật: Chị H xin ly hôn và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Chị H và anh K chung sống với nhau có thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh K vắng mặt đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H. Qua lời trình bày của chị H và kết quả xác minh từ địa phương được biết đời sống vợ chồng giữa chị H và anh K đã xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có sự quan tâm và chia sẻ với nhau, anh K không chí thú làm ăn mà tham gia tệ nạn cờ bạc làm cho đời sống gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ khuyên ngăn nhưng anh K không thay đổi từ đó làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc và vợ chồng đã ly thân khoảng hơn 01 năm nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải để hòa giải đoàn tụ nhưng anh K không chấp hành theo giấy mời, không thể hiện thiện chí hàn gắn hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H xin được ly hôn. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh K.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy K1, sinh ngày 19/7/2014 hiện đang sống với chị H. Chị H có nguyện được nuôi con không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, trong thời gian một mình nuôi con vừa qua chị H đảm bảo cho con có cuộc sống sinh hoạt bình thường, bản thân chị H đi làm có thu nhập ổn định, tạo được chỗ ăn ở và môi trường học tập cho con, đảm bảo được việc nuôi dạy con, do đó Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Nguyễn Duy K1 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị H là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;
- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim H và anh Nguyễn Văn A Ly K.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy K1, sinh ngày 19/7/2014 cho Trần Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn. Ghi nhận sự tự nguyện của Trần Thị Kim H về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn A Ly K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Kim H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005782 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chị Trần Thị Kim H đã nộp đủ án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/4/2019). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã T -CT-HG; - Lưu, HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thơm |