vanban.org

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh T. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là các cháu: Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh ngày: 10/6/2003 và cháu Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 12/8/2004. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2019
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Huy

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Dư

2. Ông Cao Nho Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa

tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C. Hội

đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý

số: 316/2018/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2018, về: “Ly hôn” theo

quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3

năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1984

Hộ khẩu thường trú: Thôn Tân Hiệp, xã Cam Phước Đông, thành phố C,

tỉnh Khánh Hòa.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Thống Nhất, xã Cam Phước Đông, thành phố C, tỉnh

Khánh Hòa. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1983

Hộ khẩu thường trú: Thôn Tân Hiệp, xã Cam Phước Đông, thành phố C,

tỉnh Khánh Hòa.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Thống Nhất, xã Cam Phước Đông, thành phố C, tỉnh

Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2018, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Cam Phước Đông, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 09, quyển số 01, cấp ngày 07/3/2003.

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng vài năm gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh T thường xuyên uống rượu say về nhà chửi bới, đánh đập vợ con và đập phá đồ đạc trong nhà, vì con cái chị đã cố gắng nhẫn nhịn, chịu đựng nhiều năm, mặc dù bản thân chị không hề có lỗi gì, nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh ngày: 10/6/2003 và cháu Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 12/8/2004.

Chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Chị làm nhân viên phục vụ nhà hàng và phụ bán thêm mỹ phẩm, thu nhập bình quân mỗi tháng hiện nay 7.000.000 đồng đủ sức nuôi 02 con.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không nợ ai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhưng không đến Tòa để tham gia hòa giải và xét xử, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Về con chung: Chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị Quỳnh H và cháu Nguyễn Thị Kiều T và ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận; Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét; Về nợ chung: Không có. Chị H phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, trừ vào tiền tạm ứng án phí.

Tài liệu chứng cứ trong trong hồ sơ vụ án:

Giấy chứng nhận kết hôn.

Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Quỳnh H, Nguyễn Thị Kiều T.

Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị H.

Sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Nguyễn Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Chị Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thanh T. Yêu cầu của chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Chị H và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Cam Phước Đông, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 09, quyển số 01, cấp ngày 07/3/2003. Do đó, hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau thì vài năm gần đây vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu trách nhiệm vun đắp gia đình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn được và không còn quan tâm nhau, chị xác định tình cảm với anh T không còn nữa nên chị kiên quyết ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

Mặt khác, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay, anh T không đến tòa để tham gia hòa giải, trình bày ý kiến và không có biện pháp để cải thiện, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, điều đó chứng tỏ anh thờ ơ, bỏ mặc quan hệ hôn nhân giữa anh và chị H.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thanh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh ngày: 10/6/2003 và cháu Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 12/8/2004.

Chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Xét: Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Cháu Nguyễn Thị Quỳnh H, Nguyễn Thị Kiều T hiện nay còn nhỏ, lại là nữ cần có sự chăm sóc chu đáo, giáo dục giới tính từ người mẹ và có nguyện vọng được chung sống với chị H. Do đó, chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Nguyễn Thị Quỳnh H, Nguyễn Thị Kiều T là có căn cứ, phù hợp với Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là các cháu: Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh ngày: 10/6/2003 và cháu Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 12/8/2004.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu anh Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích các con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về “ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Hạnh đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0000200 ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ