- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Huy T được ly hôn chị Doãn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 01-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Khắc Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cương và ông Nguyễn Xuân Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1989; nơi cư trú: xóm 5, xã L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Doãn Thị M, sinh năm 1990; nơi cư trú cuối cùng: xóm 1, xã D, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2018, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Huy T trình bày: anh T và chị Doãn Thị M lấy nhau có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2011 quyển số 01/2011 ngày 19 tháng 9 năm 2011 của Ủy ban nhân dân xã D, huyện N, tỉnh Nghệ An, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau ngày kết hôn, anh T, chị M chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân, do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là kể từ tháng 02 năm 2013, vợ chồng cãi nhau gay gắt nên chị M đã bỏ nhà đi không quan tâm gì đến anh T và con, kể từ đó cho đến nay không ai biết tin tức gì của chị M. Ngày 19 tháng 9 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc đã tuyên bố chị M mất tích theo yêu cầu của anh T. Nay anh T xác định không còn tình cảm với chị M nữa nên yêu cầu được ly hôn chị M. Anh T và M có một con chung là Nguyễn Huy H, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2012, hiện nay anh T đang trực tiếp nuôi con. Nếu ly hôn anh T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu H. Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Huy T ly hôn chị Doãn Thị M. Về con chung: giao con chung Nguyễn Huy H, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2012 cho anh T trực tiếp nuôi; chị M mất tích nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị M. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nhận định:
[1] Nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; bị đơn có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền.
Bị đơn chị Doãn Thị M đã bị tuyên bố mất tích, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho chị M theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Huy T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T và chị M.
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa anh Nguyễn Huy T và chị Doãn Thị M là hôn nhân hợp pháp, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Anh Nguyễn Huy T và chị Doãn Thị M chung sống với nhau được khoảng gần 02 năm thì chị M bỏ đi. Chị M đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 38/2018/QĐDS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là cho anh T được ly hôn chị M.
Về con chung: Anh Nguyễn Huy T và chị Doãn Thị M có một con chung là Nguyễn Huy H, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2012. Chị M mất tích nên cần giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị M.
Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Huy T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Huy T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Huy T được ly hôn chị Doãn Thị M.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2012 cho anh Nguyễn Huy T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Doãn Thị M.
Chị Doãn Thị M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu chị M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung thì anh Nguyễn Huy T có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con chung của chị M.
3. Về tài sản chung: không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Huy T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0004419 ngày 10 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
5. Nguyên đơn và Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Nghi Lộc; - Chi cục THADS huyện Nghi Lộc; - UBND xã D, huyện N; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Cao Khắc Chiến |