- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn V + Bùi Thị H"
- Tòa quyết gì? Về con chung: Áp dụng Điều 58, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2019` V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Thanh Hợi
2. Ông Nguyễn Văn Đàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện BáThước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/01/2019 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐXX-ST ngày 15/02/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V ; Sinh năm 1987 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Y T , xã Y L , huyện N X , tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Bùi Thị H ; Sinh năm 1991(là người mất tích).
Nhân khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V , xã Đ Q , huyện B T , tỉnh Thanh Hóa Là người mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số: 12/2018/QĐDS-ST ngày 10/12/2018.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Nguyễn Văn V và chị Bùi Thị H tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau có tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ Q , huyện B T tỉnh Thanh Hóa vào ngày 02/08/2010. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống được một thời gian thì mâu thuẫn do không hợp nhau. Sinh được 01 con chung là cháu Nguyễn Bùi Hải Đ sinh ngày 10/11/2011. Từ đầu năm 2013 chị Bùi Thị H tự ý bỏ nhà đi để lại con chung cho anh V và không để lại thông tin địa chỉ.
Anh Nguyễn Văn V đã tìm kiếm tin tức của chị Bùi Thị H qua người thân và bạn bè đều không có kết quả.
Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số: 12/2018/QĐDS-ST ngày 10/12/2018 Tòa án nhân dân huyện B T đã tuyên bố chị Bùi Thị H là người mất tích.
Nay anh Nguyễn Văn V làm đơn khởi kiện có nguyện vọng xin ly hôn với chị Bùi Thị H (là người mất tích).
Về con chung : Hiện nay anh Nguyễn Văn V đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bùi Hải Đ sinh ngày 10/11/2011. Chị H là người biệt tích anh V có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản: Anh Nguyễn Văn V trình bày không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử anh Nguyễn Văn V có đơn xin xử vắng mặt gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định trình tự tố tụng của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Việc anh Nguyễn Văn V sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử có đơn xin xử vắng mặt Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án.
- Anh Nguyễn Văn V và chị Bùi Thị H tự do tìm hiểu tự nguyện lấy nhau có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ Q , huyện B T , tỉnhThanh Hóa nên hôn nhân của anh chị hợp pháp.
Tình trạng hôn nhân: Chị Bùi Thị H đã tự bỏ nhà đi từ đầu năm 2013 đến nay. Quyết định giải quyết việc dân sự số: 12/2018/QĐDS-ST ngày 10/12/2018 Tòa án nhân dân huyện Bá Thước đã tuyên bố chị Bùi Thị H là người mất tích, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật.
Xét thấy hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn V và chị Bùi Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại hôn nhân chỉ còn trên danh nghĩa. Việc anh V khởi kiện xin ly hôn với chị Bùi Thị H (là người mất tích) có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn V , xử cho anh Nguyễn Văn V được ly hôn chị Bùi Thị H .
Về con chung: Chị Bùi Thị H là người mất tích việc anh V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Bùi Hải Đ sinh ngày 10/11/2011 và không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp.
Về tài sản: Anh Nguyễn Văn V trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, chị Bùi Thị H là người mất tích nên HĐXX không có cơ sở xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014. Xử cho anh Nguyễn Văn V ly hôn chị Bùi Thị H .
Về con chung: Áp dụng Điều 58, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình. Giao cháu Nguyễn Bùi Hải Đ sinh ngày 10/11/2011 cho anh Nguyễn Văn V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Anh Nguyễn Văn V không yêu cầu chị Bùi Thị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Bùi Thị H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh V đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0002806 ngày 15 tháng 01 năm 2019 (anh Văn đã nộp đủ).
Án sơ thẩm vắng mặt anh Nguyễn Văn V , vắng mặt chị Bùi Thị H . Anh Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND xã Y L , huyện N X , tỉnh Thanh Hóa. Chị Bùi Thị H có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết án sơ thẩm tại UBND xã Đ Q , huyện B T , tỉnh Thanh Hóa nơi cư trú cuối cùng của chị Bùi Thị H .
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát; - Các đương sự; -UBND xã Yên Lễ ( CQĐKKH) -UBND xã Điền Quang ….. - Lưu. H§XX s¬ thÈm C¸c Héi thÈm nh©n d©n Cao Xuân Băng Lê Thị Hiền | T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬSƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quyên ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn Tßa Trần Thị Quyên |