vanban.org

Bản án 16/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về cấp dưỡng

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/03/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn M.

Giữ nguyên bản án số 51/2018/HNGĐ-ST ngày 26/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc. Buộc anh Nguyễn Văn M phải cấp dưỡng nuôi cháuNguyễn Chí T cùng chị Hà Thị Y mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01 năm 2019 cho đến khi cháu Thanh đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị Y và Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2019/HNGĐ-PT
Ngày: 15/3/2019
V/v cấp dưỡng nuôi con chung
sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Lan Phương

Bà Ngô Thị Hà

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 15/3/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2019/TLPT- HNGĐ ngày 20/02/2019 về việc “Cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 51/2018/HNGĐ-ST ngày 26/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐ-PT ngày 27/02/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Y, sinh năm 1972. Có mặt.

Địa chỉ hiện nay: Xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1972. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.

3. Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Hà Thị Y trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn M đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 05/2018/QĐCN - HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.Tại Quyết định thuận tình ly hôn chị được giao quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Chí T , anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nhưng hiện tại hoàn cảnh của chị không có nhà ở cố định phải đi thuê, cháu Nguyễn Chí T lại mắc phải cùng một lúc hai căn bệnh nặng, phải điều trị suốt cuộc đời, khả năng về tài chính của chị không đảm bảo để một mình nuôi con. Vì vậy chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc anh Nguyễn Văn M phải trợ cấp tiền nuôi cháu T hết quãng đời còn lại. Mức cấp dưỡng là 5.000.000đ/01 tháng.

Bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:

Anh và chị Y đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2018/QĐCN-HNGĐ ngày 23/01/2018 của TAND huyện Hậu Lộc. Trong quyết định nêu trên về con chung vợ chồng có 02 con chung, cháu đầu sinh năm 1994 đã thành niên; cháu thứ hai là Nguyễn Chí Thanh sinh ngày 04/01/2002. Anh chị thỏa thuân giao cho chị Y trực tiếp, chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y.

Nay chị Y yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000đ suốt đời do cháu Nguyễn Chí T mắc bệnh nặng, anh không đồng ý cấp dưỡng cho cháu T, đề nghị giữ nguyên phần con chung như đã thỏa thuận trong Quyết định số 05/2018/QĐCN-HNGĐ ngày 23/01/2018 của Tòa án.

Bản án số 51/2018/HNGĐ-ST ngày 26/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã áp dụng:Khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39. Điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 107; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 24; diểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.Xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Thị Y yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn M.

Buộc anh Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi cháuNguyễn Chí T cùng chị Hà Thị Y mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01 năm 2019 cho đến khi cháu Thanh đủ 18 tuổi.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/01/2019, anh Nguyễn Văn M kháng cáo bản án sơ thẩm: Đề nghị Tòa án xem xét miễn tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh vì hiện tại anh không đủ khả năng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị Y.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Kháng cáo của anh M không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày, tranh luận của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Xét các nội dung kháng cáo đề nghị miễn tiền cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Văn M:

Anh M xuất trình tài liệu gồm: Hợp đồng tín dụng có nội dung anh đang vay của Ngân hàng NN&PTNT huyện Hậu Lộc số tiền 190.000.000đ để mua sắm vật dụng, tài sản cá nhân và chưa thanh toán xong nên mỗi tháng anh phải trích lương thanh toán cho Ngân hàng một phần tiền gốc và lãi; anh đang phải nuôi mẹ già, bản thân phải chữa bệnh tiểu đường, có đơn xin xác nhận điều kiện hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh M trình bày sau khi thực hiện các nghĩa vụ theo các tài liệu anh đã xuất trình và chữa bệnh cho bản thân, mỗi tháng anh chỉ còn 500.000đ để chi tiêu, mặt khác trước khi ly hôn giữa anh và chị Y đã thỏa thuận xong về chi phí cho việc nuôi con nên anh không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Chị Y trình bày hiện tại cháu T mắc phải 02 căn bệnh: Rối loạn thần kinh và u thần kinh phải uống thuốc điều trị hàng ngày, đồng thời phải liên tục giám sát vì cháu T bị tăng động và nói năng huyên thuyên, điều kiện kinh tế của chị hiện nay rất khó khăn, không thể tự mình đảm bảo chi phí nuôi dưỡng và chữa bệnh cho cháu. Do tại cấp sơ thẩm chị chưa xuất trình được bệnh án u thần kinh của cháu Thanh nên chị đồng ý mức và thời điểm cấp dưỡng như bản án sơ thẩm tuyên. Anh M thừa nhận cháu Tcó bị bệnh nhưng chưa đến mức trầm trọng nên anh giữ nguyên ý kiến của mình.

Xét thấy, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là quyền và là nghĩa vụ của chị Y và anh M. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 05/2018/QĐCN-HNGĐ ngày 23/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, anh M và chị Y thỏa thuận: “ Hiện tại anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y”. Tuy nhiên, do thấy không thể tự mình bảo đảm được chi phí nuôi dưỡng con chung nên tháng 8/2018 chị Y khởi kiện yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi cháu M cùng chị. Bản án sơ thẩm sau khi xem xét điều kiện kinh tế của anh M đã buộc anh M cấp dưỡng nuôi cháu T 1.500.000đ/tháng là phù hợp và đúng với quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Các lý do anh M nêu ra đề nghị Tòa án xem xét miễn tiền cấp dưỡng nuôi cháu M cho anh không được chấp nhận vì hiện tại anh có việc làm, có thu nhập ổn định, việc anh nại đã để lại tài sản cho chị Y nuôi con sau khi ly hôn không có tài liệu chứng minh, do đó anh phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng để bảo đảm cuộc sống cho cháu T theo quy định của pháp luật sau khi anh chị ly hôn. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Chị Y trình bày cháu T mắc hai căn bệnh nặng, phải điều trị suốt cuộc đời và khó có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân, nhưng chị không xuất trình các tài liệu để chứng minh, chị cũng thừa nhận hiện tại chưa thể kết luận các căn bệnh của cháu T có làm mất khả năng lao động của cháu không. Do đó, HĐXX không có căn cứ để xem xét việc cấp dưỡng nuôi cháu Thanh sau khi cháu đủ 18 tuổi. Khi cháu Thanh đủ 18 tuổi và nếu có căn cứ xác định cháu không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình thì chị Y có quyền khởi kiện một vụ án khác để được xem xét về việc cấp dưỡng nuôi cháu Thanh theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

.Án phí phúc thẩm: Anh M phải nộp án phí phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn M.

Giữ nguyên bản án số 51/2018/HNGĐ-ST ngày 26/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Buộc anh Nguyễn Văn M phải cấp dưỡng nuôi cháuNguyễn Chí T cùng chị Hà Thị Y mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01 năm 2019 cho đến khi cháu Thanh đủ 18 tuổi.

2. Về án phí phúc thẩm: Anh M phải chịu án phí phúc thẩm. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo Biên lai thu số 0005383 ngày 08/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ