- Tranh chấp gì? án hành chính — "Hành chính"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc yêu cầu:
- Căn cứ chính? Luật Đất đai; Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT Quy định về hồ sơ địa chính; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HC-ST Ngày: 05-9-2019 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Văn Be
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thanh Tâm;
Bà Lâm Thị Kiều Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thúy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa Ông Nguyễn Trần An - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 7, ngày 30 tháng 8, ngày 05 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2018/TLST–HC ngày 03 tháng 12 năm 2018 về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HC ngày 05 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Lê Văn H, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 13, ấp TĐ xã TH, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Bùi Quốc T và Luật sư Phạm Tấn Th Văn phòng luật sư Quốc T thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Văn Tiến D, chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Lương Nguyễn Đằng D, chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Xuân Tr, chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Quang K, chức vụ: Phó Giám đốc Trung Tâm phát triển quỹ đất tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Th, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22-02-2019); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lại Thành L, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Công ty Cổ phần Năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Trọng Kh, chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người đại theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T, chức vụ: Phó Tổng giám đốc (văn bản ủy quyền ngày 21-02-2019); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang H, chức vụ: Quyền giám đốc; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Quỹ tín dụng nhân dân xã TH, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc D, chức vụ: Giám đốc có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Dương Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ 13, ấp TĐ, xã TH, huyện T tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Lê Thanh V, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ 13 ấp TĐ, xã TH, huyện T tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Lê Thị Bích T, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ 13 ấp TĐ, xã TH, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện ông Lê Văn H trình bày:
Năm 1976, cha ông là Dương Văn Th đến khu vực ven suối Tha La (nay là khu vực hồ Dầu Tiếng) thuộc địa bàn xã TH, huyện T, tỉnh Tây Ninh khai hoang rừng để lấy đất sản xuất. Năm 1991, vợ chồng ông được cha mẹ tặng cho đất, năm 1996 ông được Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số 01696QSDĐ/450310 với diện tích 55.045 m2, gồm các thửa 318, 340, 946, 1087 tờ bản đồ số 2 và thửa 183 tờ bản đồ số 3. Ngày 10-5-1999, ông chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T diện tích 2.470 m2 thửa 1087. Ngày 30-3-2014, ông chuyển nhượng cho bà Trần Hoa H diện tích 4.480 m2 thửa 946. Việc chuyển nhượng được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và cập nhật biến động.
Ngày 10-5-2018, UBND xã TH có Thông báo số 100/TB-UBND về việc chi trả tiền hỗ trợ sản xuất và giao mặt bằng để thực hiện Dự án nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3, hỗ trợ gia đình ông số tiền 174.618.300 đồng cho toàn bộ diện tích 21.166,6 m2. Ngày 16-8-2018 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh T sau khi rà soát hệ thống các bản đồ thì diện tích đất của ông thuộc các thửa 318 tờ bản đồ số 2 và thửa thửa 183 tờ bản đồ số 3 không bị ảnh hưởng bởi dự án nhưng UBND tỉnh Tây Ninh vẫn thu hồi đất của gia đình ông.
UBND tỉnh Tây Ninh không ban hành Quyết định thu hồi đất; Quyết định áp giá đền bù đất và tài sản trên đất; hổ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hổ trợ ổn định đời sống và sản xuất; chỉ đạo UBND huyện T UBND xã TH thu hồi là trái pháp luật; vi phạm nghiêm trọng pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Nay ông khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
+ Hủy một phần Quyết định số 1227/QĐ-UBNB ngày 07-5-2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc thu hồi 7.200.000 m2 đất tại xã S, Huyện D và xã TH, TP, huyện T, Tây Ninh do Công ty TNHH MTV Dầu Tiếng – Phước Hòa quản lý.
+ Buộc UBND tỉnh Tây Ninh, Trung tâm Phát triển Quỹ đất, UBND huyện T và UBND xã TH chấm dứt ngay hành vi trái pháp luật rào chắn lấy đất của gia đình ông, phải giao trả lại toàn bộ đất đã thu hồi trái pháp luật diện tích 21.166,6 m2 của ông H đứng tên.
Ngày 30-7-2019 ông Lê Văn H có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Hủy một phần của hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO560062, số vào sổ CT02437 và số CO560063, số vào sổ CT02436 do UBND tỉnh Tây Ninh cấp ngày 03-10-2018 cho Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh đứng tên trong GCNQSDĐ.
+ Hủy Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 của UBND huyện T về việc thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông H.
Ngày 14-8-2019 ông Lê Văn H có đơn thay đổi một phần nội dung khởi kiện:
Từ yêu cầu buộc UBND tỉnh Tây Ninh, Trung tâm Phát triển Quỹ đất UBND huyện T và UBND xã TH chấm dứt ngay hành vi trái pháp luật rào chắn lấy đất của gia đình; phải giao trả lại toàn bộ đất đã thu hồi trái pháp luật diện tích đất 21.166,6 m2 của ông H đứng tên thành buộc UBND tỉnh Tây Ninh và Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh áp giá đền bù đất bị thu hồi tổng diện tích 21.166,6 m2 đúng quy định của pháp luật.
Người bị kiện UBND tỉnh Tây Ninh trình bày:
Về khẳng định vị trí không được cấp GCNQSDĐ: Căn cứ Quyết định số 190/TTg ngày 13-5-1979 của Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn nhiệm vụ thiết kế xây dựng hệ thống công trình thủy lợi Dầu Tiếng; căn cứ Pháp lệnh số 36-L/CTN ngày 10-9-1994 của Chủ tịch nước công bố về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; căn cứ Nghị định số 112/2008/NĐ-CP ngày 20-10-2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi; căn cứ Thông tư 03/2012/TT-BTNMT ngày 12-4-2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý, sử dụng đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện, thủy lợi; căn cứ Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 07-02-2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa ba công trình thủy lợi vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, trong đó có hồ chứa nước Dầu Tiếng Tây Ninh gồm khu đập chính, đập phụ tuyến đập phụ kéo dài 27 km, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ cao trình đỉnh đập 27 m trở xuống và trong phạm vi bảo vệ chân đê không thuộc trường hợp được xem xét cấp GCNQSDĐ vì đây là vùng bán ngập được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về thủy lợi, đê điều và các văn bản pháp luật có liên quan.
Ngày 17-10-2018, UBND tỉnh Tây Ninh đã thành lập Đoàn thanh tra việc cấp GCNQSDĐ trong khu vực bán ngập hồ Dầu Tiếng thuộc đia bàn huyện T. Tại Kết luận thanh tra số 40/KL-UBND ngày 11-01-2019 xác định việc cấp GCNQSDĐ trong khu vực bán ngập hồ Dầu Tiếng là không đúng theo quy định của pháp luật.
Về chủ trương quy hoạch xây dựng điện mặt trời tại Hồ Dầu Tiếng: Ngày 16-6-2017, Bộ Công thương có Văn bản số 5325/BCT-TCNL trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung Dự án điện mặt trời tại hồ Dầu Tiếng vào Quy hoạch điện IV. Ngày 18-8-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 1228/TTg-CN đồng ý bổ sung Dự án điện mặt trời tại hồ Dầu Tiếng vào Quy hoạch điện IV.
Ngày 04-01-2018, UBND tỉnh Tây Ninh có Thông báo số 41/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3 tại khu vực hồ Dầu Tiếng Huyện D và T, tỉnh Tây Ninh. Ngày 04-4-2018 UBND tỉnh có Công văn 790/UBND-KTTC về hỗ trợ giao đất để thực hiện dự án đầu tư nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3. Ngày 07-5-2018, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 1227/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 7.200.000 m2 đất bán ngập tại xã S, Huyện D và xã TH, xã TP, huyện T do Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa quản lý theo Quyết định số 2812/QĐ-UBND ngày 09-12-2014 của UBND tỉnh Tây Ninh.
UBND tỉnh Tây Ninh xác định vị trí đất ông Lê Văn H khởi kiện nằm trong khu vực đất bán ngập hồ Dầu Tiếng thuộc quyền quản lý, sử dụng trực tiếp của Nhà nước từ khi được Chính phủ phê duyệt dự án hồ Dầu Tiếng từ năm 1979. UBND tỉnh Tây Ninh không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND huyện T trình bày:
Qua kết quả xác minh ghi nhận, tổng diện tích đất của ông H thuộc cao trình 24,4 m đến cao trình 23 m bị ảnh hưởng bởi dự án là 21.166,6 m2. Gồm thửa 340 tờ bản đồ số 2 diện tích 11.040 m2 hệ thống bản đồ 299, theo bản đồ dự án là 01 phần thửa 39 diện tích 12.746,9 m2; và thửa 43 tờ bản đồ số 5 theo hệ thống bản đồ 2013 diện tích 8.419,7 m2 (không được cấp GCNQSDĐ), theo bản đồ dự án là thửa 123 diện tích 8.419,7 m2 .
Căn cứ theo Kết luận số 40/KL-UBND ngày 11-01-2019 của UBND tỉnh Tây Ninh, ngày 21-3-2019 UBND huyện T ban hành Quyết định số 955/QĐ-UBND thu hồi GCNQSDĐ số 01696QSDĐ/450310 do ông Lê Văn H đứng tên là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do sơ sót trong soạn thảo văn bản, ngày 03-9-2019 UBND huyện T có Quyết định về việc điều chỉnh một phần nội dung tại Điều 1 Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 UBND huyện T thu hồi GCNQSDĐ ông H từ diện tích 55.045 m2 còn lại diện tích phải thu hồi là 48.095 m2 các nội dung còn lại của Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 vẫn giữ nguyên giá trị.
Đối với yêu cầu áp giá đền bù đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật thực hiện dự án nhà máy điện năng lượng mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3 chủ thể trực tiếp bị thu hồi đất là Công ty TNHH MTV khai thác Thuỷ lợi Dầu Tiếng – Phước Hoà, không phải là cá nhân. Gia đình của ông H là đối tượng tận dụng sản xuất khu vực đất bán ngập hồ Dầu Tiếng nên không phải là đối tượng trực tiếp bị thu hồi đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh trình bày:
Công ty TNHH Xuân Cầu được đổi tên thành Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh. Công ty có thuê diện tích đất 7.200.000 m2 tại huyện T và Huyện D, tỉnh Tây Ninh từ ngày 07-5-2018 để thực hiện án điện mặt trời theo Hợp đồng thuê đất số 01, 02/09-HĐ-TĐ ngày 10-9-2018. Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh đã được cấp GCNQSDĐ số CO560063, số vào sổ CT02436 diện tích 347.576,2 m2 thửa 123 tờ bản đồ số 4 và GCNQSDĐ số CO560062, số vào sổ CT02437 diện tích 856.564,1 m2 thửa 168, tờ bản đồ số 5 cả 02 diện tích đất tọa lạc tại xã TH, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa trình bày:
Năm 2014 UBND tỉnh Tây Ninh giao cho Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa quản lý phần đất bán ngập hồ Dầu Tiếng từ cao trình 24,4 m trở xuống khu vực lòng hồ diện tích 20.260,47 ha tại các xã TH, S TT, TH, TP, ThĐ, thị trấn TC, huyện T; xã S, xã Ph, Huyện D. Ngày 07-5-2018 UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 1227/QĐ-UBND thu hồi diện tích 7.200.000 m2 đất tại các xã TH, xã TP, huyện T; xã S, Huyện D giao cho Công ty Cổ phần Năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quỹ tín dụng nhân dân TH huyện T, Tây Ninh trình bày: Hiện nay theo danh sách các hộ dân chưa nhận tiền trong dự án điện năng lượng mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3 còn tại Quỹ tín dụng TH trong đó có gia đình ông Lê Văn H đứng tên số tiền gửi 174.618.300 đồng chưa nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Dương Thị T, anh Lê Thanh V, chị Lê Thị Bích T trình bày: Thống nhất lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H, ngoài ra không trình bày gì thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày:
Nguồn gốc đất do cha mẹ ông H khai hoang từ năm 1976. Năm 1991 được cha mẹ tặng cho. Ngày 26-9-1996, ông H được cấp CNQSDĐ. Gia đình ông H có chuyển nhượng đất cho ông T và bà H được các cơ quan có thẩm quyền cho ph p, thực hiện đầy đủ các định của pháp luật, được cập nhật biến động, không ai tranh chấp.
Khẳng định việc cấp GCNQSDĐ cho ông Lê Văn H đúng quy định của pháp luật, đây là chứng thư pháp lý, được Nhà nước bảo hộ cho người sử dụng đất; gia đình ông H bỏ nhiều công sức canh tác trên phần đất tử năm 1991 đến khi bị thu hồi đất, UBND tỉnh Tây Ninh không ban hành quyết định thu hồi đất quyết định áp giá đền bù đất và tài sản trên đất; hổ trợ ổn định đời sống và sản xuất; không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông H. Ông H có đầy đủ cơ sở pháp lý của người sử dụng đất, yêu cầu UBND huyện xác định diện tích đất nào không bị ảnh hưởng bởi dự án thì công nhận quyền sử dụng đất cho ông H, diện tích nào bị ảnh hưởng dự án thì bồi thường về đất theo quy định của pháp luật. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của ông H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày: Giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Công văn số 599/UBND ngày 02-4-2019 của UBND tỉnh Tây Ninh.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[[1] Về thủ tục tố tụng: UBND tỉnh Tây Ninh, ông Văn Tiến D, ông Lương Nguyễn Đằng D, ông Võ Xuân Tr, ông Trần Quang K, bà Nguyễn Thị Th, ông Lại Thành L, ông Trần Quang H, ông Phạm Văn T, ông Trần Quốc D bà Dương Thị T, anh Lê Thanh V, chị Lê Thị Bích T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:
Ngày 07-5-2018, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 1227/QĐ-UBND về việc thu hồi 7.200.000 m2 đất tại xã S, Huyện D và xã TH, TP, huyện T do Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng - Phước Hòa quản lý. Đây là Quyết định thu hồi đất tổng thể. Ông H cho rằng diện tích đất của ông đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ vào ngày 26-9-1996 nằm trong diện tích 7.200.000 m2 UBND tỉnh Tây Ninh thu hồi làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông, nên ông H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy một phần Quyết định số 1227/QĐ-UBNB ngày 07-5-2018 của UBND tỉnh Tây Ninh; hủy một phần của hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCNQSDĐ số CO560062, số vào sổ CT02437 và số CO560063, số vào sổ CT02436 do UBND tỉnh Tây Ninh cấp ngày 03-10-2018 cho Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh; hủy Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 của UBND huyện T về việc thu hồi GCNQSDĐ diện tích 48.095 m2 do ông H đứng tên; buộc UBND tỉnh Tây Ninh và Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh áp giá đền bù đất với tổng diện tích đất 21.166,6 m2 theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì các Quyết định nêu trên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, ông H yêu cầu giải quyết là còn trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với yêu cầu hủy một phần Quyết định số 1227/QĐ-UBNB ngày 07-5-2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc thu hồi 7.200.000 m2 đất tại xã S Huyện D và xã TH, xã TP, huyện T, Tây Ninh do Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng - Phước Hòa quản lý.
Về nguồn gốc đất, đây là đất bán ngập hồ Dầu Tiếng thuộc quyền quản lý sử dụng trực tiếp của Nhà nước, được Chính phủ phê duyệt vào năm 1979 và UBND tỉnh giao cho các cơ quan đơn vị quản lý liên tục cho đến nay. Từ khi được Chính phủ phê duyệt, thiết kế xây dựng hồ Dầu Tiếng năm 1979 hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1985. Sau khi đưa vào vận hành, toàn bộ diện tích đất trong phạm vi hồ Dầu Tiếng được giao cho Công ty TNHH MTV khai thác thuỷ lợi Dầu Tiếng – Phước Hoà quản lý. Như vậy, về vị trí đất của ông H khởi kiện nằm trong khu đất bán ngập hồ Dầu Tiếng và khẳng định vị trí đất trên không được cấp GCNQSDĐ. Thực hiện dự án nhà máy điện năng lượng mặt trời Dầu tiếng 1,2,3 UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 1227/QĐ-UBNB ngày 07-5-2018 về việc thu hồi 7.200.000 m2 đất tại xã S, Huyện D, xã TH, TP huyện T do Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa quản lý, chủ thể bị thu hồi đất là Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa không phải là cá nhân của ông H. Do đó, yêu cầu huỷ một phần Quyết định số 1227/QĐ-UBNB ngày 07-5-2018 của UBND tỉnh Tây Ninh là không có cơ sở.
Đối với yêu cầu hủy một phần của hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO560062, số vào sổ CT02437 và số CO560063, số vào sổ CT02436 do UBND tỉnh Tây Ninh cấp ngày 03-10-2018 cho Công ty cổ phần năng lượng Dầu tiếng Tây Ninh.
Ngày 16-6-2017 Bộ Công thương có Văn bản số 5325/BCT-TCNL trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung dự án điện mặt trời tại hồ Dầu Tiếng vào Quy hoạch điện VII, ngày 18-8-2017 Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 1228/TTg-CN về việc đồng ý bổ sung dự án điện mặt trời tại hồ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh. Dự án nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3 của Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh đã được UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư tại các Quyết định số 3065/QĐ-UBND, 3066/QĐ-UBND và 3067/QĐ-UBND ngày 18-12-2017. Như vậy, trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh là đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 của UBND huyện T về thu hồi GCNQSDĐ số 01696 QSDĐ/450310 do ông Lê Văn H đứng tên:
Ngày 17-10-2018 Chủ tịch UBND Tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 2562/QĐ-UBND thành lập Đoàn thanh tra thực hiện các quy định của pháp luật về cấp GCNQSDĐ trong khu vực đất bán ngập hồ Dầu Tiếng thuộc địa phận huyện T. Trong quá trình thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về cấp GCNQSDĐ đoàn thanh tra phát hiện việc cấp GCNQSDĐ cho ông H là không đúng quy định của pháp luật nên ngày 21-3-2019 UBND huyện T ban hành các Quyết định 955/QĐ-UBND thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông H. Tuy nhiên, do sơ sót trong soạn thảo văn bản, ngày 03-9-2019 UBND huyện T có Quyết định về việc điều chỉnh một phần nội dung tại Điều 1 Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 UBND huyện T thu hồi GCNQSDĐ ông H từ diện tích 55.045 m2 còn lại diện tích phải thu hồi là 48.095 m2 các nội dung còn lại của Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 vẫn giữ nguyên giá trị. Như vậy, việc thu hồi GCNQSDĐ là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục.
Đối với yêu cầu buộc UBND tỉnh Tây Ninh và Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh áp giá đền bù đất với diện tích đất 21.166,6 m2 theo đúng quy định của pháp luật.
Khi thực hiện dự án nhà máy điện năng lượng mặt trời Dầu Tiếng 1,2,3 chủ thể trực tiếp bị thu hồi đất là Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa không phải là cá nhân ông H. Tại Tờ trình số 1796/TTr-STNMT ngày 29-3-2018 của Sở TNMT tỉnh Tây Ninh có đề xuất chủ trương khi thu hồi đất thực hiện dự án và đã được UBND tỉnh Tây Ninh thống nhất tại Công văn số 790/UBND-KTTC ngày 04-4-2018, xác định không bồi thường đất đối với các hộ đang sản xuất. Tuy nhiên, để ổn định đời sống cho người dân trong vùng dự án bị ảnh hưởng, hộ gia đình, cá nhân đang tận dụng đất sản xuất trong phạm vi dự án được xem xét áp dụng chính sách hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ nhà cửa, công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu hình thành trước khi có thông báo thu hồi đất.
Về đơn giá bồi thường theo Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định về giá đất không quy định giá loại đất bán ngập nên trong bảng giá đất của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành theo Quyết định số 71/2014/QĐ-UBND ngày 22-12-2014 cũng không có giá đất loại đất bán ngập việc xác định giá hỗ trợ UBND tỉnh vận dụng theo giá đất nông nghiệp trong Bảng giá đất của tỉnh. Theo Bảng giá đất của tỉnh 03 xã S, TH, TP thuộc xã loại II nên thuộc vị trí 3, giá đất nông nghiệp trồng cây hằng năm là 29.000 đồng/m2. Căn cứ các yếu tố trên hỗ trợ như sau: Mức 1 từ cao trình 24,4 m trở xuống 23 m bằng 18% giá đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, giá 5.220 đồng/m2 (52.200.000 đồng/ha); mức 2 từ cao trình 23 m đến cao trình 22 m bằng 10% giá đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, giá 2.900 đồng/m2 (29.000.000 đồng/ha); hỗ trợ nhà cửa, công trình, vật kiến trúc trước khi có thông báo thu hồi đất bằng 40% mức bồi thường, hỗ trợ xây dựng mới nhà, công trình đó có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo đơn giá tại Quyết định số 81/2014/QĐ-UBND ngày 31-12-2014 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc ban hành Bảng đơn giá nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; về cây trái hoa màu có trên đất trước khi có thông báo thu hồi đất bằng 100% theo đơn giá quy định tại Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 29-12-2015 của UBND tỉnh Tây Ninh về ban hành Bảng giá bồi thường, hỗ trợ hoa màu, cây trái và vật nuôi trước khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, cho những tài sản tạo lập trước ngày tổ chức công khai thông báo thu hồi đất.
Gia đình của ông H được xem xét hổ trợ sản xuất là 110.489.700 đồng; hỗ trợ hoa màu, cây trái là 63.499.800 đồng; hỗ trợ công trình, vật kiến trúc là 628.800; tổng cộng là 174.618.300 đồng. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H.
Chi phí tố tụng: Ông H phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 358 của Luật Tố tụng hành chính. Ghi nhận ông H đã nộp xong.
Về án phí: Ông H phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm theo qui định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015;
Căn cứ Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19-5-2014 của Bộ Tài nguyên và Môi Trường quy định về hồ sơ địa chính;
Căn cứ của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc yêu cầu:
+ Hủy một phần Quyết định số 1227/QĐ-UBNB ngày 07-5-2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc thu hồi 7.200.000 m2 đất tại xã S, Huyện D và xã TH, TP, huyện T, tỉnh Tây Ninh do Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa quản lý.
+ Hủy một phần của hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO560062, số vào sổ CT02437 và số CO560063, số vào sổ CT02436 do UBND tỉnh Tây Ninh cấp ngày 03-10-2018 cho Công ty cổ phần năng lượng Dầu tiếng Tây Ninh đứng tên trong GCNQSDĐ;
+ Hủy Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày 21-3-2019 của UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01696QSDĐ/450310 do ông Lê văn H đứng tên.
+ Buộc UBND tỉnh Tây Ninh và Công ty cổ phần năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh áp giá đền bù đất với tổng diện tích đất 21.166,6 m2 theo đúng quy định của pháp luật.
2. Chi phí tố tụng: Ông H phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 358 của Luật Tố tụng hành chính. Ghi nhận ông H đã nộp xong:
3. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hành chính, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000743 ngày 03-12-2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; ông H đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.
Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Luật tố tụng hành chính.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Cục THADS tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lâm Văn Be |