| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/DS-PT Ngày: 18 - 3 - 2019 V/v: “ quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông
Ông
- Thư ký phiên tòa:
, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2018/TLPT-DS ngày 3 tháng 12 năm 2018 về việc: “
quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân
bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T.
Địa chỉ: Thôn TĐ, xã Đ, huyện B1, tỉnh Quảng Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị T: Ông Huỳnh Mỹ L - Luật sư, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T1,
Địa chỉ: Thôn TĐ, xã Đ, huyện B1, tỉnh Quảng Bình.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ ban nhân dân huyện B1, tỉnh Quảng Bình.
Địa chỉ: Thị trấn H, huyện B1, tỉnh Quảng Bình.
ại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang V - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện B1.
M
Địa chỉ: Thôn TĐ, xã Đ, huyện B1, tỉnh Quảng Bình.
T
Địa chỉ: Thôn TĐ, xã Đ, huyện B1, tỉnh Quảng Bình.
: Nguyên đơn b
T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T trình bày:
Năm 2005, vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh huyện B1
tài sản thế chấp
ông L, bà M tự bán tài sản thế chấp quyền sử dụng 140m2 đất và tài sản trên đất tại thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B1, được Ủy ban nhân dân huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số H865945 ngày 15/12/1996 để trả nợ Ngân hàng. Giữa vợ chồng ông L, bà M và vợ chồng ông H, bà T đã ký kết hợp đồng chuyển
140 m2 , hợp đồng được UBND xã Đ, huyện B1 chứng thực.
Sau đó, UBND huyện B1 đã cấp cho vợ chồng ông bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, tuy nhiên diện tích đất chỉ còn 107m2. Quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông L, bà M ông bà không chuyển nhượng lại đất cho
nhưng diện tích đất thực tế ông bà sử dụng ít hơn 33m2 khi ký kết h p đồng chuyển nhượng. Ông H, bà T cho rằng ông Phạm Văn T1 hộ liền kề là chủ sử dụng thửa đất số 122, tờ bản đồ số 01 xã Đ đã lấn chiếm diện tích 33m2 đất.
Vì vậy, ông H, bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị Bảo phải trả lại diện tích 33m2 đất và yêu cầu Tòa án hủy nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 của UBND huyện B1 đã cấp cho ông bà.
Bị đơn ông Phạm Văn T1 trình bày:
Diện tích đất gia đình ông đang sử dụng có nguồn gốc là của bố, mẹ ông để lại cho ông, năm 1996 ông được UBND huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 865923 với diện tích 180m2 đất tại thửa số 122, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B1. Quá trình ông sử dụng đất ổn định, diện tích đất ông sử dụng đã xây dựng tường rào hoặc tường nhà của các hộ liền kề, việc ông H, bà T khởi kiện cho rằng ông đã lấn chiếm 33m2 đất là không có căn cứ, vì ranh giới giữa hai nhà là tường nhà phía sau của ông L, bà M xây dựng đã cũ.
Tại Công văn số 861/UBND ngày 28/5/2018, UBND huyện B1 trình bày:
Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M với diện tích 140m2 như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện B1 cấp cho ông L, bà M, tuy nhiên khi kiểm tra thực địa thửa đất để làm thủ tục chuyển nhượng thì diện tích đất thực tế là 107,0m2 (biên bản ngày 03/01/2006) đã được các bên ký xác nhận số đo thực tế. Sau khi nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà M và ông H, bà T do UBND xã Đ chuyển đến, UBND huyện B1 đã hoàn tất thủ tục và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 tại thửa 121, tờ bản đồ số 01, diện tích 107 m2 cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T.
Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà T đảm bảo đúng quy định của pháp luật, do đó UBND huyện B1 không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 09/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định:
Căn cứ vào Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 97, Điều 98 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T về việc buộc ông Phạm Văn T1 trả lại 33 m2 đất.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 của ủy ban nhân dân huyện B1 đã cấp cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T.
T
kháng cáo
ẩm
2
k
n
T1
n
Giấ
ận quyền sử dụng đất không
L
ông L, bà M
ông H, bà T ghi
140m2
Đ
Th
hợp đồ
2
Đ
ông Lê Thanh Th
Đ không
Đ
không
T đương sự.
3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
Viện kiể
Hợp đồng
iấ
ận quyền sử dụng đất
ông L, bà M. Hợp đồ
2
ông L, bà M
. Ủy ban nhân dân
Giấ
ận quyền sử dụng đất cho ông H, bà T năm 2006,
107m2
T không
không
2 T1
kháng cáo
T, nguyên
.
[1] Năm 1996, ông L, bà M được UBND huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 865945 với diện tích 140 m2 đất tại thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B1.
ông L, bà M lập
ông H, bà T toàn bộ 140m2 thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B1. Ngày 03/01/2006, UBND xã Đ tiến hành kiểm tra thực địa thửa đất để làm thủ tục chuyển nhượng thì diện tích thực tế thửa đất 107 m2, việc đo đạc đã được các bên ký xác nhận số đo thực tế.
, hợp đồ
ghi 107m2 l
15/11/2005 ghi
140m2 theo giấ
ận quyền sử dụng đất
ông L, bà M.
[2] UBND huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698
tại thửa 121, tờ bản đồ số 01, diện tích 107 m2 cho ông H, bà T
hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng dụng đất giữa ông L, bà M và ông H, bà T,
UBND xã Đ
.
[3] Ông Phạm Văn T1 được UBND huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 865923
với diện tích 180 m2 đất tại thửa số 122, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B1.
[4]
quá trình sử dụng đất giữa ông T1 và các hộ liền kề đã xây dựng tường rào hoặc tường nhà
ông L, bà M
ông H, bà T
,
ông L, bà M ông T1 không
ông H, bà T
iấ
ận quyền sử dụng đất
. Trong
không
iấ
ận quyền sử dụng đất
. Ông L, bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 140 m2 nhưng khi kiểm tra thực địa thửa đất để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì diện tích thửa đất 107 m2 (việc đo đạc được ông L, bà M, ông H và ông T1 hộ liền kề xác nhận ký tên). Vì vậy, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B1 giữa ông L, bà M và ông H, bà T ghi
107 m2
pháp luật.
[5] Việc ông H, bà T
ghi trên giấy
ận quyền sử dụng đất
ông L, bà M,
ông T1
33 m2 đất là không
Điều 98 Luật Đất đai năm 2013.
[6] Đối với yêu cầu Tòa án hủy Giấ
ận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 của UBND huyện B1 đã cấp cho ông H, bà T, thấy:
, UBND huyện B1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 cho ông H, bà T là đúng quy định
pháp luật. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006, ông H, bà T không
. Vì vậy, việc ông H, bà T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 của UBND huyện B1 cấp cho ông H, bà T là không có căn cứ.
[7]
khởi kiện
ông T1 phải trả lại 33 m2 đất;
tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 của UBND huyện B1 cấp cho ông H, bà T kháng cáo
T không
.
[8
T
Hợp đồng
ông L, bà M
ông H,
UBND xã Đ
;
,
không không
không
nên
ẩm không
[9] Bà Lê Thị T phải chịu án phí dân sự
.
Vì các lẽ trên;
QUY T ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
bà Lê Thị T;
- Điều 98 Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T về việc buộc ông Phạm Văn T1 trả lại 33 m2 đất.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006 của ban nhân dân huyện B1 cấp cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T.
3.
:
Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T
án phí dân sự
biên lai số 0002671 ngày 04/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự
.
n phí dân sự
Bà Lê Thị T
án phí dân sự
biên lai số 0005105 ngày 12/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự
.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - - Cụ - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Tự |