vanban.org

Bản án 16/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2017. Miễn áp dụng hình hạt bổ sung đối với bị cáo T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T và đồng bọn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HSST
Ngày 02 - 3 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thanh Thủy.

Bà Nguyễn Đức Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/Nguyễn Tấn T; sinh năm: 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: đường Đ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tấn H (chết) và bà: Nguyễn Thị V; có vợ: Nguyễn Thị Bé O; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: /; bị bắt giữ ngày: 29/9/2017, tạm giữ ngày: 29/9/2017, tạm giam ngày: 04/10/2017.

2/Trịnh Hảo N; sinh năm: 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: /(vô danh) và bà: Trịnh M; có vợ: Nguyễn Thị Cẩm N và 01 con (sinh năm 2006); tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: /; bị bắt giữ ngày: 28/9/2017, tạm giữ ngày: 29/9/2017, tạm giam ngày: 04/10/2017.

(Các bị cáo có mặt).

-Bị hại: Huỳnh Thị Mỹ P – Sinh năm: 1998 (vắng mặt). Thường trú: xã A , phường L, thành phố L, tỉnh Lâm Đồng. Trú tại: đường B, Phường K, Quận L, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 ngày 28/9/2017, Trịnh Hảo N điều khiển xe môtô biển số 51L4-0636 đến tiệm bắn cá Hana tại ngã ba Trần Hưng Đạo - Lê Hồng Phong, Quận 5; tại đây, N gặp Nguyễn Tấn T, T rủ N cùng đi cướp giật tài sản, N đồng ý; T điều khiển xe môtô chở N đi lòng vòng qua nhiều tuyến đường; đến 11 giờ 40 phút cùng ngày, trên đường Nguyễn Chí Thanh, cả hai nhìn thấy chị Huỳnh Thị Mỹ P cùng chị Nguyễn Đoan Trinh, Hà Thị Kim P1 đang đi bộ qua đường hướng đến nhà 82 đường Nguyễn Chí Thanh, Phường 3, Quận 10, lúc này chị P đi sát lề đường đang ôm 01 balô trước ngực, T điều khiển xe áp sát bên phải chị P, còn N ngồi sau dùng tay trái giật chiếc balô của chị; ngay lúc này, chị P liền tri hô và cùng quần chúng nhân dân đuổi theo bắt giữ được N cùng phương tiện, vật chứng giải giao đến Công an Phường 3, Quận 10. Công an Phường 3, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu; sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra làm; riêng T đã chạy thoát.

Qua truy xét, ngày 29/9/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Tấn T; và quyết định khởi tố và điều tra đối với Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N về hành vi “Cướp giật tài sản”.

Tài sản bị chiếm đoạt là 01 chiếc balô (bên trong có 49.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung và một số dụng cụ học tập), đã được thu hồi và giao trả lại tài sản cho bị hại Huỳnh Thị Mỹ P. Nhận lại tài sản, chị P không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 chiếc xe môtô biển số 51L4-0636, qua xác minh chủ sở hữu là Trịnh Hảo N; Công an Quận 10 đã tạm giữ lại.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, người bị hại, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N; xử phạt các bị cáo: Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 51L4-0636 (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: Yamaha, số loại:/, màu sơn: Đỏ - xám, dung tích xi lanh: 113 cm3, số khung: RLCN2B520 - 5Y041057, số máy: 2B52 - 41057); qua xác minh chủ sở hữu là bị cáo Trịnh Hảo N, sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; do vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Ý kiến của các bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Các bị cáo đã có hành vi cùng đồng bọn dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe môtô có phân khối lớn, lợi dụng sự sơ hở của người khác mà nhanh chóng công khai cướp giật tài sản của họ ngay trên đường phố, nên các bị cáo bị truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điềm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) và thuộc trường quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); xét thấy tội danh “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) không có những quy định có lợi đối với các bị cáo so với quy định Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và hành vi của bị cáo thực hiện trước 00 giờ 00 ngày 01/01/2018; do vậy bị cáo bị xét xử tương ứng theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, thì hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và giao trả lại cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì; do vậy không có gì để Tòa giải quyết.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 51L4-0636 (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: Yamaha, số loại:/, màu sơn: Đỏ - xám, dung tích xi lanh: 113 cm3, số khung: RLCN2B520 - 5Y041057, số máy: 2B52 - 41057); qua xác minh chủ sở hữu là bị cáo Trịnh Hảo N, sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; do vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trịnh Hảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Tấn T;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2017.

Miễn áp dụng hình hạt bổ sung đối với bị cáo T.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trịnh Hảo N;

Xử phạt bị cáo Trịnh Hảo N 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2017.

Miễn áp dụng hình hạt bổ sung đối với bị cáo N.

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô biển số 51L4-0636 (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: Yamaha, số loại:/, màu sơn: Đỏ - xám, dung tích xi lanh: 113 cm3, số khung: RLCN2B520 - 5Y041057, số máy: 2B52 - 41057).

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/01/2018 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Bị cáo N chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./. Nôi nhaän:

Cỡ chữ