vanban.org

Bản án 16/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đới Văn M phạm tội “ Trộm cắp tài sản” xử phạt Đới Văn M 12 ( mười hai) tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2018.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Đới Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, số IMEL: 35518066925139. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộn cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đới Văn M phạm tội “ Trộm cắp tài sản” xử phạt Đới Văn M 12 ( mười hai) tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HSST
Ngày 25 tháng 6 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Thao

2. Ông Tạ Văn Toan

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Xuân Ngọc, Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham

gia phiên toà: Bà Vũ Thị tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2018/TLST - HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Đới Văn M, sinh ngày 21/7/1984, tại Ninh Bình; nơi ĐKNKTT: Xóm 1, Đông Sơn, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đới Văn T và bà Đỗ Thị Th; vợ con chưa có; Tiền án: không. Tiền sự: Tại quyết định xử phạt hành chính số 05 ngày 25/2/2015 của Công an xã Yên Mạc xử phạt 500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt; Quyết định XPHC số 128 ngày 13/6/2015 của Công an huyện Yên Mô xử phạt 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến nay chưa chấp hành; Ngày 30/7/2015 bị TAND huyện Yên Mô ra quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 26/10/2017; Nhân thân: Tại bản án số 05 ngày 21/3/2003 bị TAND huyện Yên Mô xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 29/5/2009; Bản án số 24 ngày 05/12/2005 bị TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 29/5/2009; Bản án sô 33 ngày 22/8/2008, TAND thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 29/5/2009 bị cáo chấp hành xong tiền án phí; Bản án số 198 ngày 20/6/2011 của TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 39 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 13/6/2014 bị cáo chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2018 đến ngày 21/3/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình; bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người bị hại: Anh Ngô Quyết th, sinh năm 1994, trú tại xóm 7, xã Yên mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, ( vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Anh M, sinh năm 1987, trú tại thôn Xuân P , xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. ( vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1982, trú tại thôn Xuân P, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. ( vắng mặt)

+ Chị Đào Thị Th, sinh năm 1975, trú tại thôn Bộ Đ, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt )

Người làm chứng: Anh Lê Văn Ch, trú tại xóm 1, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/3/2018 Đới Văn M cầm chiếc vam phá khóa bằng kim loại hình chữ T do M tự tạo, bỏ vào túi quần đi bộ từ nhà mình dọc theo Quốc lộ 12B đến địa phận xã Yên Mỹ, M thấy trước cửa quán Intenet của anh Ch dựng nhiều xe mô tô, không có người trông coi, M lén lút đến chiếc xe mô tô Wave, mầu sơn xanh BKS 35B1 – 692.01 của anh Ngô Quyết Th ( anh Th là khách đến chơi game tại quán), M dùng vam phá khóa cắm vào ổ khóa điện vặn theo chiều kim đồng hồ thì mở được ổ khóa, M rút vam phá khóa ra khỏi ổ khóa và dắt xe ra đường, M nổ máy và điều khiển xe đi theo hướng 12B lên Quốc lộ 1A, trên đường đi đến xã Khánh Thượng, M dựng xe dùng vam phá khóa mở yên xe phát hiện trong cốp có 01 ví da mầu đen, trong ví có 01 đăng ký xe, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Ngô Quyết Th. M bỏ ví và giấy tờ vào túi quần rồi điều khiển xe đến huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Trên đường đi M lấy điện thoại gọi đến số của anh Nguyễn Anh M( là bạn cùng đi cơ sở cai nghiện) nhờ đem xe đi cầm đồ, do không quen ai nên Nguyễn Anh M đã dẫn Đới Văn M đến gặp anh Nguyễn Văn C để nhờ anh C mang xe đi cầm đồ, được anh C đồng ý, anh C dẫn M đến hiệu cầm đồ của chị Đào Thị Th trú tại thôn Bộ Đầu, xã Ninh An, Huyện Hoa Lư. Khi đến hiệu cầm đồ chỉ có một mình C mang xe vào gặp chị Th, thỏa thuận gửi xe mô tô 35B1 692.01 và vay 5.000.000đồng, chị Th đồng ý. Sau khi cầm được xe, anh C đưa số tiền 5.000.000 đồng cho Đới Văn M, M cầm 5.000.000đồng rồi đưa 2.000.000đồng cùng giấy tờ cho anh Nguyễn Anh giữ hộ.

Ngày 20/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Ninh Bình bắt giữ Đới Văn M trong trường hợp khẩn cấp tại phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 mầu đỏ; 01 bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng và 01 ống Novocain bằng thủy tinh chưa qua sử dụng. Ngày 29/3/2018 chuyển cho cơ quan cành sát điều tra Công an huyện Yên Mô vật chứng trên. Thu tại nhà chị Đào Thị Th 01 giấy vay tiền, 1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu wave, sơn màu xanh, BKS 35B1 – 692.01 số máy 5341319; số khung Y 341237. Ngày 20/3/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra quyết định yêu cầu định giá tài sản: tại quyết định định giá sô 18 ngày 21/3/2018 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Ninh Bình kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 35B1 – 692.01 có giá tại thời điểm định giá ngày 19/3/2018 là 9.500.000đồng.

Đối với 01 chiếc ví da mầu đen, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mô tô BKS 35B1 – 692.01 đều mang tên anh Ngô Quyết Th, Đới Văn M khai đưa cho Nguyễn Anh M giữ hộ, Cơ quan điều tra đã xác minh hiện Nguyễn Anh M không có mặt tại địa phương do vậy chưa thu giữ được, 01 chiếc vam phá khóa hình chữ T bằng kim loại, Đới Văn M sử dụng để phá ổ khóa điện, M khai đã vứt ở ven đường, trên đường đi tiêu thụ, do M không xác định được vị trí vứt nên cơ quan điều tra không thu hồi được. Chiếc điện thoại di động của Nguyễn Anh M sử dụng để nghe điện thoại của Nguyễn Văn M, và số tiền M gửi Nguyễn Anh M 2.000.000đồng do hiện nay không xác định được Nguyễn Anh M đang ở đâu vì vậy không thu hồi được.

Đới Văn M Tại cơ quan điều tra đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh, BKS 35B1 – 692.01 số máy 5341319; số khung Y 341237 là tài sản của anh Ngô Quyết Th, ngày 25/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại cho anh Th.

Tại bản cáo trạng số:19/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị can Đới Văn M ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Đới Văn M phạm tội " Trộm cắp tài sản ".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2018;

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy: 01 ống nước cất Novocain 3% bằng thủy tinh chưa qua sử dụng, 01 bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng. Trả lại cho Đới Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, số IMEL: 35518066925139.

Án phí: Buộc Đới Văn M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để xác định khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/3/2018 lợi dụng sơ hở của gia đình anh Lê Văn Ch là chủ quán Intenet thuộc xóm 1, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô. Không có người trông coi, Đới Văn M đã lén lút dùng vam phá khóa mở ổ khóa điện, trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 35B1 – 692.01 nhãn hiệu Honda loạixe Wave trị giá 9.500.000 đồng của anh Ngô Quyết Th đang dựng ở quán nhằm mục đích tiêu sài cá nhân

Hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản sơ hở, Đới Văn M đã trộm cắp tài sản của anh Ngô Quyết Th có trị giá 9.500.000 đồng. Đối chiếu với quy định của pháp luật, đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đới Văn M đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại khoản 1 Điều 173 BLHS quy định“ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a…”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh, để giáo dục cải tạo bị cáo và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử về các tội chiếm đoạt, Tàng trữ trái phép chất ma túy đã được xóa án cũng như bị xử lý về các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo chưa chấp hành quyết định xử lý hành chính.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự suy nghĩ về việc làm của mình để sửa chữa trở thành người công dân tốt.

Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trong vụ án có anh Nguyễn Anh M, Nguyễn Văn C là những người đã đem chiếc xe mô tô do M trộm cắp đi cầm cố; chị Đào Thị Th là người nhận cầm cố chiếc xe nhưng anh Nguyễn Anh M, Nguyễn Văn C và chị Đào Thị T không biết đó là tài sản do Đới Văn M trộm cắp mà có nên những người liên quan không vi phạm pháp luật.

Các biện pháp tư pháp:

Anh Ngô Quyết Th đã nhận lại chiếc xe mô tô BKS 35B1 – 692.01 Đối với chiếc ví da mầu đen đã cũ, 01 chiếc chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 đăng ký xe mô tô của anh Th, anh Th đã đi làm lại và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí cho việc đi làm lại giấy tờ này do đó không phải xem xét quyết định trong bản án.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, số IMEL: 35518066925139 điện thoại đã cũ là tài sản của M không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 ống nước cất Novocain 3% bằng thủy tinh chưa qua sử dụng, 01 bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng là những vật chứng thu giữ khi bắt giữ Đới Văn M, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định đều đã hết giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Bị cáo; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 136; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Đới Văn M phạm tội “ Trộm cắp tài sản” xử phạt Đới Văn M 12 ( mười hai) tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2018.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho Đới Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, số IMEL: 35518066925139.

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống nước cất Novocain 3% bằng thủy tinh chưa qua sử dụng, 01 bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng.

( chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2018 giữa công an huyện Yên Mô với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án, buộc Đới Văn M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ