vanban.org

Bản án 16/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 17/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/02/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HS-ST
Ngày 17-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xÐt xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Thà;

2. Ông Nguyễn Khắc Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2018/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P, sinh ngày 04/4/1991 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tuấn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: có 01 tiền án: Tại Bản án số 87/2012/HSST ngày 27/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành phần án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án; tiền sự: Không; nhân thân:

+ Bản án số 65/2009/HSST ngày 12/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản chiếm đoạt trị giá 8.150.000đ). Thời hạn tù được tính từ ngày 18/01/2009. Tại thời điểm phạm tội (ngày 18/01/2009), bị cáo Nguyễn Văn P dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015;

+ Tại Bản án số 10/2010/HSST ngày 04/02/2010 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp có giá trị 1.500.000 đồng), chấp hành xong ngày 29/10/2010 tại Trại giam A2 - tỉnh Khánh Hòa;

+ Tại Bản án số 47/2011/HSST ngày 29/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp có giá trị 1.500.000 đồng). Chấp hành xong ngày 24/3/2011 tại Trại giam Hàm Tân – thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/02/2018 đến ngày 07/02/2018 chuyển tạm giam cho đến nay, “Có mặt”.

- Bị hại: Bà Cao Thị N, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp T, xã N, thành phố X, tỉnh Tây Ninh, “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi đánh bạc thua hết tiền tại casino Campuchia, bị cáo Nguyễn Văn P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán kiếm tiền đánh bạc, tiêu xài cá nhân. Vào sáng ngày 04/02/2018, bị cáo P bắt xe buýt đi từ xã M, huyện C, tỉnh Tây Ninh xuống thành phố X, tỉnh Tây Ninh trên đường đi Tây Ninh bị cáo xuống xe và thuê xe ôm đi đến khu vực các vườn mãng cầu thuộc ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 09 giờ cùng ngày, P nhìn thấy xe môtô hiệu VINA, biển số 70H5-7035, màu xanh của bà Cao Thị N, sinh năm 1965 ngụ ấp T, xã N, thành phố X, tỉnh Tây Ninh có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. P lén lút lại gần, đẩy xe ra được một đoạn, nổ máy bỏ chạy thì bà N và bà Cao Thị T phát hiện tri hô. Lúc này, Công an xã V và anh Phan Trọng H đuổi theo bắt quả tang bị cáo P cùng tang vật vào lúc 10 giờ cùng ngày.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Kết luận định giá tài sản:

Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 06/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 xe môtô hiệu VINA, biển số 70H5-7035, có giá trị thị trường là 2.500.000 đồng.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản:

- 01 (một) xe mô tô hiệu VINA, màu xanh, biển số 70H5-7035, số khung 110201000508, số máy 10058541, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Cao Thị N.

* Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Cao Thị N đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KSĐT, ngày 11 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị hại Cao Thị N vắng mặt và trong quá trình điều tra không yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản bị thiệt hại.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận đã làm điều sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo cam kết sẽ không tái phạm và sẽ sửa đổi, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 09 giờ ngày 04/02/2018, tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Văn P lén lút lấy trộm của bà Cao Thị N 01 xe mô tô hiệu VINA, biển số 70H5-7035 có giá trị thị trường 2.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Do đó, Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KSĐT, ngày 11 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là một thanh niên trẻ có sức khỏe nhưng không chịu khó làm ăn, kiếm sống một cách lương thiện mà bị cáo đã lén lút đi trộm tài sản của người khác để bán kiếm tiền tiêu xài. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích cụ thể là vào ngày 27/9/2012 bị cáo Nguyễn Văn P bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thi hành phần án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Ngoài lần phạm tội bị kết án chưa được xóa án tích nói trên, về nhân thân của bị cáo: Vào ngày 12/8/2009 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại thời điểm phạm tội (ngày 18/01/2009), bị cáo Nguyễn Văn P dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Ngày 04/02/2010 bị Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản; ngày 29/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do hai lần trộm cắp tài sản năm 2010 và năm 2011 đều có giá trị tài sản bị chiếm đoạt trị giá 1.500.000đ nên tiền án trước đó (năm 2009) được sử dụng làm tình tiết định tội đối với bị cáo Nguyễn Văn P. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, lần kết án ngày 12/8/2009 được coi là chưa có án tích nên hai lần kết án sau (năm 2010, 2011) cũng được coi là chưa có án tích nhưng điều đó thể hiện nhân thân của cáo xấu.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, không có công việc ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Cao Thị N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên đã xử lý xong theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/02/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn P.

2. Bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại Cao Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn P chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ