- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý La B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 326/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về…; Điều 136 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-ST Ngày 20/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Chu Đức Quế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Thuyết
Bà Hoàng Thị Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2018, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2018/HSST, ngày 05 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Lý La B , sinh ngày 18/01/1993 tại xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Trú tại: thôn B, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lý La T và con bà Hoàng Thị B; vợ: Lê Thị T; Có 01 con; Tiền sự: Không. Tiền án: Có 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" bị xử phạt 10 tháng tù, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2018 (có mặt tại phiên tòa).
* Ng êi bÞ h¹i: Ông Lý La T - sinh năm 1971 (Vắng mặt có lý do).
Nghề nghiệp: Làm ruộng Trú tại: Thôn B, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị B - Sn 1972 (Có mặt).
Nghề nghiệp: Làm ruộng Trú tại: Thôn B, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 21/7/2018 Lý La B đi từ nhà tại thôn B, xã N, huyện P đến thành phố B, tỉnh Bắc Kạn chơi. Đến ngày 25/7/2018 do sử dụng hết tiền mang theo nên B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình. Đêm ngày 25/7/2018 Bộ đi xe khách từ thành phố B về nhà nhưng B không vào nhà mà ngủ tại gác để rơm trong chuồng bò gần nhà để không ai nhìn thấy. Khoảng 08 giờ ngày 26/7/2018, Bộ thấy bố mẹ là ông Lý La T và bà Hoàng Thị B đã đi ra khỏi nhà nên B đi vào nhà bằng cửa ngách. B đi thẳng vào buồng ngủ của bố mẹ đến vị trí để chiếc két sắt màu nâu, B tìm được chìa khóa mở két ở trong một chiếc hộp đặt trên chiếc két nên lấy cắm vào két và tiến hành mở két sắt bằng dãy mã số 30100092. Sau khi mở được két sắt B quan sát thấy trong ngăn to có một chiếc hộp bằng tôn mỏng màu xanh được khóa lại, chìa khóa buộc ở dây treo ở quai chiếc hộp, B dùng chìa khóa mở nắp hộp thấy bên trong có 4.000.000 tiền Việt Nam đồng với nhiều mệnh giá khác nhau B đã lấy toàn bộ số tiền và để lại chiếc hộp; B tiếp tục quan sát thấy có 01 chiếc chìa khóa nên B đã dùng để mở khóa ngăn bé bên trên trong két thì thấy có một chiếc hộp bằng nhựa màu đỏ dùng để đựng vàng bạc bên trong có 01 lắc tay bằng vàng 03 chỉ và 01 sợi dây chuyền bằng vàng 05 chỉ nên B đã lấy chiếc hộp đó. Sau khi lấy được tiền và vàng, B lấy một tờ giấy viết “Con sẽ đi chết bố mẹ ko phải lo” để vào trong két sắt rồi khóa két lại như cũ. Sau khi lấy được tiền và vàng, B đi ra ngoài bằng lối cũ và bắt xe khách xuống thành phố B, tỉnh Bắc Kạn bán số vàng trên cho một cửa hàng vàng bạc (không xác định được địa chỉ) được số tiền 26.000.000đ và đã tiêu dùng cá nhân hết.
Ngày 27/7/2018 ông Lý La T phát hiện bị mất tiền và vàng nên đã trình báo đến cơ quan Công an đề nghị giải quyết.
Tiến hành điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã lấy lời khai bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khám nghiệm hiện trường tạm giữ 01 két sắt màu nâu, 01 hộp bằng tôn mỏng màu xanh và yêu cầu định giá tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 31/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện P kết luận: Một chiếc lắc tay và một sợi dây chuyền bằng vàng có khối lượng 08 chỉ có giá trị 27.600.000đ.
Tại cơ quan điều tra, Lý La B khai nhận do đã có mục đích trộm cắp tài sản của gia đình từ trước, nên đã để ý vị trí bố mẹ hay để chìa khóa cùng với việc bản thân đã tự dò biết được mã số khóa của két và B đã từng mở két, nên ngày 25/7/2018 B về nhà nhưng không vào nhà mà ngủ tại gác để rơm trong chuồng bò với mục đích không để ai nhìn thấy, và đợi đến sáng để mọi người đi làm thì sẽ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Số tài sản trên là của bố mẹ bị cáo, bị cáo không có đóng góp gì trong khối tài sản này. Sau khi lấy trộm được tiền và vàng, bị cáo đã viết giấy để lại trong két với mục đích để bố mẹ biết. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra tra vụ án xác định bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, tự thú nhận việc trộm cắp. Do vậy bị cáo ® îc áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do vậy phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Vật chứng của vụ án: 01 két sắt màu nâu và 01 hộp màu xanh là tài sản của gia đình ông Lý La T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Ông Lý La T không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSPN ngày 03/11/2018 truy tố bị cáo Lý La B về tội "Trộm cắp tài sản" và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Bị cáo Lý La B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm s, r khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Lý La B từ 12 đến 18 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý La B.
- Về án phí: Áp dông Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lý La B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lý La B nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức hình phạt thấp nhất và cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Tại phiên toà, bị cáo Lý La B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 26/7/2018 tại nhà ông Lý La T tại thôn B, xã N, huyện P, lợi dụng lúc gia đình ông Lý La T không có ai ở nhà, Lý La B đã lén lút trộm cắp tài sản trị giá 31.600.000 đồng gồm số tiền 4.000.000 đồng, một dây chuyền bằng vàng và một lắc tay bằng vàng có tổng giá trị 27.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
…………………………………………………………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[ 3 ] XÐt hµnh vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, g©y ¶nh h ëng xÊu ®Õn t×nh h×nh an ninh, trËt tù trÞ an t¹i ®Þa ph ¬ng. Do vËy cÇn xö lý nghiªm minh b»ng ph¸p luËt h×nh sù ®èi víi bÞ c¸o míi cã t¸c dông gi¸o dôc, r¨n ®e vµ phßng ngõa téi ph¹m chung cho x· héi.
[ 4 ] XÐt vÒ nh©n th©n vµ c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Ngày 28/8/2017 bị cáo B bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, xử phạt 10 tháng tù chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại phạm tội mới. Trong vụ án này, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự thú khai ra việc phạm tội nên bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là "Tái phạm". Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật của Nhà nước cần đưa bị cáo vào trại cải tạo một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe tội phạm chung cho xã hội.
[ 5 ] Về biện pháp tư pháp: Hiện nay bị cáo vẫn sống phụ thuộc gia đình bố mẹ, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, do vậy nếu áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng không có khả năng thi hành khoản tiền phạt. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý La B.
[ 6 ] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại trong vụ án là ông Lý La T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giấy ủy quyền cho vợ là bà Hoàng Thị B tham gia tố tụng và ông T không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại nên không xem xét. Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị B không yêu cầu gì về bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[ 7 ] Vật chứng vụ án: 01 két sắt màu nâu và 01 hộp bằng tôn mỏng màu xanh của gia đình ông Lý La T, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
[ 8 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý La B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào Điều 38; khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lý La B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (24/8/2018).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí;
Bị cáo Lý La B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (1b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (1b); - VKSND huyện Pác Nặm (1b); - Cán bộ HS - CA huyện Pác Nặm (3b); - Chi cục T.H.A dân sự huyện Pác Nặm (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (1b); - Bị cáo (1b); - Người bị hại (01b); - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (01b); - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn thư (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Chu Đức Quế |