vanban.org

Bản án 16/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Viet be"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!HƯNG!NGUYÊN!
!!!!!!TỈNH!NGHỆ!AN!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2018/HNGĐ-ST
Ngày 17-9-2018
V/v yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HƯNG!NGUYÊN,!TỈNH!NGHỆ!AN!

-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"chủ"toạ"phiên"toà: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Lê Đường;

2. Ông Trần Văn Hải;

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Trà My, cán bộ Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên tham"gia"phiên" tòa:!Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số 54/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “cấp dưỡng nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2018 và quyết định hoàn phiên tòa số: 12/2018/QĐHPT-ST ngày 28 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên"đơn:"Anh Lê Ngọc Việt, sinh năm: 1984; Địa chỉ cư trú tại: khối 1, phường Đội Cung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Bị"đơn: Chị Nguyễn Thị Bé, sinh năm: 1986; Trú tại: khối 4, thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con ngày 17 tháng 4 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Toà sơ thẩm, nguyên"đơn"anh"Lê"Ngọc"Việt"trình"bày:"

Anh và chị Nguyễn Thị Bé là vợ chồng, đã có 01 (một) con chung là Lê Ngọc Thảo Nguyên, sinh năm 2011. Do vợ chồng mẫu thuẫn nên đã ly hôn theo

1

quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đường sự số 271/2017/QĐ-ST ngày 28 tháng 8 năm 2013 của tòa án nhân dân thành phố Vinh. Theo quyết định này thì vợ chồng thỏa thuận chị Nguyễn Thị Bé được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Ngọc Thảo Nguyên, anh Bé có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Bé mỗi tháng 500,000 đồng cho đến khi con chung thành niên.

Do sau khi ly hôn thì chị Bé kết hôn với người khác và đã có thêm một con riêng, không quan tâm đến con nên anh Việt lại làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án yêu càu thay đổi người nuôi dưỡng con chung. Tại quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 358/2017/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh quyết định “Giao con chung là Lê Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2011 cho anh Việt trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Bé vì anh Việt không yêu cầu. Thế nhưng con càng ngày càng lớn nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao, học hành tốn kém. Anh Việt không có việc làm ổn định, lao động tự do thu nhập bấp bênh không đủ trang trải cho con học tập, sinh hoạt hàng ngày. Nên anh làm đơn yêu cầu chị Bé có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1,000,000 đồng.

Tại"phiên"Tòa"anh"Việt"thay"đổi"yêu"cầu"khởi"kiện:"Anh"yêu"cầu"chị"Bé"có" nghĩa"vụ"cấp"dưỡng"nuôi"con"mỗi"tháng"từ"500,000"đến"600,000"đồng.

Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị Bé: Sau khi Tòa thụ lý vụ án, Tòa án đã liên lạc được với chị Bé qua điện thoại nhưng chị Bé không có thái độ hợp tác. Sau khi xác minh tại địa chỉ nơi chị bé có hộ khẩu thường trú thì được chính quyền địa phương cũng như mẹ đẻ của chị Bé là bà Cao Thị Lý, sinh năm 1959, cư trú tại: khối 4, thị trấn Hưng Nguyên, huyện HưngNguyên, tỉnh Nghệ An xác nhận: chị Bé thỉnh thoảng có về thăm gia đình nhưng thường vắng mặt tại nơi cư trú do đã lấy chồng và sinh con nên hay đi làm ăn xa không có địa chỉ cụ thể và ổn định.

Phát"biểu"của"Kiểm"sát"viên:"

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 82; Điều 107; Điều 110; Điều 119 luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn là chị Nguyễn Thị Bé có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng

2

từ 500,000 đến 600,000 đồng là phù hợp. Nguyên đơn không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TOÀ!ÁN:!

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về"thủ"tục"tố"tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình tranh chấp về “Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn”. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Bé có hộ khẩu thường trú tại khối 4, thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Vì vậy,Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn là chị Nguyễn Thị Bé không có thái độ hợp tác. Thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không rõ nơi cư trú mới của chị Bé. Tòa án đã tiến hành thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo có xác nhận của đại diện tổ dân phố và chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt cho chị Bé theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Biên bản đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Bé là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2].Về"cấp"dưỡng"nuôi"con"chung:"Anh Lê Ngọc Việt yêu cầu chị Nguyễn Thị Bé cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lê Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2011 mỗi tháng 500.000 (năm trăm nghìn) đến 600,000 (sáu trăm nghìn) đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82; Điều 107; Điều 110; Điều 119 luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

[4].Về"án"phí: Căn cứ điểm b Điều 12; điểm a Điều 6 và điểm a, đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là anh Lê Ngọc Việt không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Bé phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 82; Điều 107; Điều 110; Điều 119 luật Hôn nhân và Gia đình;

3

Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuyên bố:

Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Ngọc Việt.

Về"nghĩa" vụ" cấp" dưỡng"nuôi" con:"Chị Nguyễn Thị Bé có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lê Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2011 mỗi tháng 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng kể từ tháng 10 năm 2018 cho đến khi con chung thành niên, đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án Dân sự.

Về"án"phí: Nguyên đơn là anh Lê Ngọc Việt không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Bị đơn chị Nguyễn Thị Bé phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 300,000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Về"quyền"kháng"cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thới hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ