- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi tài sản từ hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 177, Điều 179, Điều 184, Điều 196, Điều 208, Điều 220, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/DS-ST Ngày : 18/01/2018 V/v : “ Đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ,THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiển
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Khưu Thị Ngọc Bích
2/ Ông Nguyễn Văn Tiệp
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lâm Đức Tài
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2017/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2017/QĐST-XX-DS ngày 01 tháng 12 năm 2017 v quyết định hon phin tịa số 243/2017/QĐST-DS ngày 22 thng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc Y – sinh năm 1976;
Địa chỉ: đường X, phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Dương Hồng L – sinh năm 1968;
Địa chỉ HKTT: số A, đường X1, phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: số B, và số C, đường X1, phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh.
(Tại phiên tòa bà Huỳnh Ngọc Y - có mặt, ông Dương Hồng L - vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2017 và tại các buổi phiên họp, hòa giải cùng các chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y trình bày: Do quen biết gần nhà nên bà thường cho ông Dương Hồng L vay mượn tiền nhiều lần. Vào năm 2011, bà có cho ông L vay số tiền là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng nhưng không viết giấy vay mượn tiền. Đến ngày 30/12/2013, ông L có đến gặp bà để vay thêm số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Do bà yêu cầu nên ngày 30/12/2013 ông L đã ghi giấy mượn tiền cho bà. Tại giấy vay mượn tiền ông L có ghi đến mùng 5 tết âm lịch (năm 2014) sẽ trả cho bà hết toàn bộ số nợ là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Do nhiều lần hứa hẹn nhưng ông L vẫn không trả nợ cho bà. Nay, bà yêu cầu ông Dương Hồng L phải trả cho bà toàn bộ số nợ là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Thanh toán nợ ngay một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật. Bà không yêu cầu tính lãi đối với số nợ vay. Do bà cho ông L trực tiếp vay mượn tiền nên bà yêu cầu cá nhân ông Dương Hồng L phải thanh tốn khoản nợ vay trên cho bà. Ngồi ra bà không yêu cầu nào khác. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã tống đạt nhiều lần nhưng ông Dương Hồng L vẫn vắng mặt Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Dương Hồng L vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 239 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Việc tham gia hỏi tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 08/02/2017, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Yến nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông Dương Hồng L phải trả cho bà số tiền vay theo giấy mượn tiền ghi ngày 30/12/2013 nên đây là tranh chấp về quyền đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y trình bày do trốn tránh để không trả cho bà số tiền vay nên ông L luôn thay đổi nơi cư ngụ tại 03 địa chỉ cụ thể trên đường X1, phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh. Tại phiếu xác minh ngày 24/8/2017, Công an phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh xác nhận “…ông Dương Hồng L có hộ khẩu thường trú tại số A, đường X1, phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh, hiện nay ông Dương Hồng L thường trú tại địa chỉ số B, đường X1, phường Y, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh…” nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Bà Huỳnh Ngọc Y là nguyên đơn, ông Dương Hồng L là bị đơn hoàn toàn phù hợp theo đúng quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. [3] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn:
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Dương Hồng L theo quy định tại Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Dương Hồng L vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Dương Hồng L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y vẫn giữ nguyên yêu cầu ông Dương Hồng L phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Thanh toán nợ ngay một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật. Bà không yêu cầu tính lãi đối với số nợ vay.
Xét giấy mượn tiền ghi ngày 30/12/2013 thể hiện bà Huỳnh Ngọc Y có cho ông Dương Hồng L vay số tiền tổng cộng là 50.000.000 đồng, không tính lãi, thời hạn thanh toán là mùng 05 tết âm lịch (năm 2014). Mặc dù đ đến hạn trả nợ nhưng ông Dương Hồng L vẫn không thanh toán toàn bộ số nợ và thay đổi chỗ cư ngụ liên tục gây khó khăn cho bà Huỳnh Ngọc Y, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản. Mặc dù nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y không yêu cầu áp dụng thời hiệu theo quy định của Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng để đảm bảo cho quyền lợi của bị đơn ông Dương Hồng L, Hội đồng xét xử xem xét phần nợ gốc là 50.000.000 đồng theo đúng quy định tại các Điều 149, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Về phần tiền lãi chậm trả: do nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y. Thời hạn thanh toán toàn bộ số nợ gốc 50.000.000 đồng làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Huỳnh Ngọc Y không phải chịu án phí. Ông Dương Hồng L phải chịu toàn bộ án phí.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 177, Điều 179, Điều 184, Điều 196, Điều 208, Điều 220, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 149, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y. Buộc ông Dương Hồng L có trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh Ngọc Y số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng theo giấy mượn tiền ghi ngày 30/12/2013 Thời hạn trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Địa điểm thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Huỳnh Ngọc Y nếu ông Dương Hồng L không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi suất của số tiền chưa thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Dương Hồng L phải chịu án phí là 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
- Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Ngọc Y số tiền 1.250.000 ( một triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2016/0026156 ngày 21/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Về quyền kháng cáo : Đương sự có mặt tại phin tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Tp. HCM; - VKSND Q.Tân Phú; - Chi cục THADS Q.Tân Phú; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Hiển |