- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Buộc chị Tống Kim H có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị H số tiền 58.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 275 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/DS–ST Ngày: 13-6-2018 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Dân;
2. Bà Nguyễn Hồng Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Lan, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 413/2017/TLST–DS ngày 21 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2018/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1982; cư trú tại: Phường T, thành phố Q, tỉnh Đ; vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Tống Kim H, sinh năm 1971; cư trú tại: Ấp C, xã M, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/12/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Trần Thị H trình bày:
Thông qua sự giới thiệu của bạn hàng nên vào tháng 11/2016 giữa chị và chị Kim H bắt đầu giao dịch mua bán trái cây từ cuối tháng 11/2016 âm lịch, mặt hàng xoài keo; chị Kim H là người bán hàng, còn chị là người mua hàng. Hình thức thỏa thuận mua bán chỉ bằng lời nói qua điện thoại, không ký hợp đồng mua bán. Nội dung thỏa thuận khi nào chị có nhu cầu mua hàng chị sẽ chủ động liên hệ với chị Kim H, chị Kim H sẽ báo giá cụ thể. Sau khi thỏa thuận thương lượng và thống nhất giá, chị sẽ chuyển tiền trước cho chị Kim H qua tài khoản ngân hàng. Sau khi chị chuyển tiền xong, chị Kim H sẽ căn cứ giá hai bên đã thỏa thuận và số tiền chị chuyển khoản để gửi khối lượng hàng phù hợp. Phương thức giao nhận hàng: Chị Kim H sẽ đóng hàng và gửi cho nhà xe Thắng Lợi, địa chỉ: Phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh vận chuyển đến cửa hàng bán trái cây của chị tại chợ Diêu Trì thuộc thị trấn D, huyện P, tỉnh Bình Định. Nhận hàng xong thì chị điện thoại thông báo cho chị Kim H biết, khi giao nhận hàng không có việc ký nhận.
Theo đó giữa chị và chị Kim H đã thỏa thuận mua bán các lần như sau:
- Lần 01: Vào cuối tháng 12/2016 âm lịch, chị thỏa thuận mua của chị Kim H xoài keo thường ngày với giá 7.000 đồng/kg, mua với số tiền 10.000.000 đồng. Đến ngày 28/12/2016 dương lịch, chị chuyển khoản cho chị Kim H số tiền 10.000.000 đồng, lần mua bán này chị Kim H đã giao hàng cho chị 200 kg x 7.000 đồng/kg = 1.400.000 đồng. Do thời gian đã lâu chị không nhớ ngày tháng nhận hàng, đợt mua bán này chị Kim H còn nợ chị 8.600.000 đồng.
- Lần 02: Chị mua hàng cho dịp Tết Nguyên đán năm 2016, lúc này giá xoài keo là 20.000 đồng/kg, chị đặt mua của chị Kim H 100 thùng xoài keo, mỗi thùng khối lượng 20 kg. Chị đã chuyển khoản cho chị Kim H 50.000.000 đồng vào ngày 04/01/2017 dương lịch. Lần mua hàng này chị Kim H chưa giao hàng cho chị, chị Kim H còn nợ chị số tiền 50.000.000 đồng.
Nay chị yêu cầu chị Tống Kim H hoàn trả cho chị số tiền 58.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2018, bị đơn – chị Tống Kim H trình bày:
Chị thừa nhận chị và chị Thị H có thỏa thuận mua bán trái cây đúng theo hình thức thỏa thuận, nội dung và phương thức giao hàng như chị Thị H trình bày, cụ thể:
- Lần 01: Khoảng cuối tháng 11/2016 (ÂL), chị Thị H có đặt mua xoài keo của chị số tiền 10.000.000 đồng, chị Thị H đã chuyển khoản thanh toán tiền cho chị xong, chị chưa thực hiện việc giao hàng.
- Lần 02: Vào dịp Tết Nguyên đán năm 2016 do chị Thị H có nhu cầu mua xoài nên giữa chị và chị Thị H thỏa thuận mua bán 100 thùng xoài, khối lượng mỗi thùng 25 kg, giá bán là 25.000 đồng/kg, trị giá lô hàng là 62.500.000 đồng, thời gian giao hàng 01 lần vào ngày 26/12/2016 âm lịch (nhằm ngày 23/01/2017 dương lịch). Chị Thị H đã chuyển khoản trước cho chị số tiền 50.000.000 đồng ngày 04/01/2017 dương lịch, còn lại 12.500.000 đồng chưa thanh toán, khi nào chị Thị H nhận được hàng sẽ thanh toán sau.
Đến ngày 25/12/2016 âm lịch, chị thực hiện đúng thỏa thuận và chuẩn bị đóng hàng giao cho nhà xe vận chuyển về cho chị Thị H thì chị Thị H đề nghị thay đổi phương thức giao hàng, không giao qua nhà xe và yêu cầu chị phải thuê xe vận chuyển hàng giao trực tiếp cho chị Thị H tại tỉnh Bình Định, chị Thị H sẽ chịu chi phí thuê xe. Chị không đồng ý với yêu cầu này của chị Thị H nên không thực hiện việc giao hàng. Chị đã phải bán số lượng xoài trên với giá thấp hơn là 15.000 đồng/kg x 100 thùng x 25kg/thùng = 37.500.000 đồng, sự việc này đã gây thiệt hại cho chị nên chị chỉ đồng ý trả cho chị Thị H số tiền 37.500.000 đồng. Trước đó chị đã nhận của chị Thị H số tiền 10.000.000 đồng nhưng chưa giao hàng, tổng cộng số tiền chị còn nợ chị Thị H là 47.500.000 đồng.
Mặt khác, đến khoảng tháng 03/2017 âm lịch, chị Thị H liên lạc với chị đề nghị chị giao tiếp trái xoài keo cho chị Thị H nên chị đã giao cho chị Thị H 10 thùng xoài x 25kg/thùng x 10.000 đồng/kg = 2.500.000 đồng; số tiền này chị Thị H chưa thanh toán.
Tổng số tiền chị Thị H chưa thanh toán cho chị là 12.500.000 đồng + 2.500.000 đồng = 15.000.000 đồng
Nay chị chỉ đồng ý trả cho chị Thị H số tiền 47.500.000 đồng – 15.000.000 đồng = 32.500.000 đồng.
Tại phiên tòa: Chị Thị H, chị Kim H đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên phát biểu ý kiến: Qua công tác kiểm sát xét thấy từ khi thụ lý vụ án, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự, chuyển hồ sơ vụ án, quá trình thu thập chứng cứ, lấy lời khai hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các bên đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị H; đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Kim H có nghĩa vụ trả cho chị Thị H số tiền 58.600.000 đồng. Chị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Trần Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Thị H.
Bị đơn chị Tống Kim H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Kim H.
Về pháp luật áp dụng: Đây là giao dịch dân sự thực hiện từ ngày 28/12/2016 kéo dài đến tháng 01/2017 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định có hiệu lực hiện hành là Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến tranh chấp để giải quyết vụ án.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H về việc yêu cầu chị Tống Kim H trả số tiền mua trái xoài keo còn nợ 58.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi thấy rằng:
Căn cứ vào lời trình bày của chị Thị H được chị Kim H thừa nhận xác định đây là hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện với hình thức giao dịch bằng lời nói (qua điện thoại), đối tượng hàng hóa là trái xoài keo; số lượng, chất lượng, giá bán do các bên thỏa thuận vào mỗi đợt mua bán; phương thức thanh toán: Bên mua hàng là chị Thị H có nghĩa vụ chuyển tiền trước cho chị Kim H qua tài khoản ngân hàng mà chị Thị H cung cấp; địa điểm giao hàng: Chị Kim H có nghĩa vụ đóng thùng và chuyển cho Nhà xe Thắng Lợi, địa chỉ: Phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh vận để vận chuyển đến cửa hàng bán trái cây của chị Thị H tại chợ Diêu Trì thuộc thị trấn D, huyện P, tỉnh Bình Định; chi phí vận chuyển do chị Thị H có nghĩa vụ thanh toán.
Xét về quá trình thực hiện hợp đồng:
- Lần 01: Chị Thị H đã chuyển khoản cho chị Kim H số tiền 10.000.000 đồng ngày 28/12/2016 để mua xoài keo thường ngày, chị Kim H đã giao 200 kg xoài keo, thành tiền là 1.400.000 đồng, chị Kim H còn nợ chị Thị H số tiền 8.600.000 đồng;
- Lần 02: Chị Thị H có nhu cầu mua hàng cho dịp Tết Nguyên đán năm 2016 nên đã chuyển khoản cho chị Kim H số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 04/01/2017, lần mua hàng này chị Kim H chưa giao hàng cho chị Thị H.
02 lần chị Thị H chuyển khoản thanh toán tiền mua xoài cho chị Kim H đều được chị Kim H thừa nhận đã nhận tổng số tiền 60.000.000 đồng của chị Thị H. Chị Kim H cho rằng vào ngày 25/12/2016 âm lịch (tức ngày 22/01/2017 dương lịch) do chị Thị H thay đổi phương thức giao hàng so với thỏa thuận ban đầu, chị Thị H yêu cầu chị Kim H giao hàng trực tiếp cho chị Thị H tại tỉnh Bình Định nên chị Kim H không thực hiện giao hàng và chị Kim H đã phải bán số lượng xoài trên với giá thấp nên gây thiệt hại cho chị Kim H số tiền 37.500.000 đồng, việc này ngoài lời trình bày của mình thì chị Kim H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2018 (bút lục số 22), chị Kim H có yêu cầu bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu khởi kiện của chị Thị H. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã thông báo yêu cầu chị Kim H thực hiện các thủ tục yêu cầu phản tố nhưng chị Kim H cũng không đến Tòa án làm thủ tục phản tố nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, nếu chị Kim H có yêu cầu sẽ được tách ra giải quyết trong một vụ án khác.
Căn cứ Điều 351, 364 Bộ luật Dân sự, chị Kim H là bên bán hàng đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng như giao không đủ khối lượng (lần 01), không thực hiện nghĩa vụ giao hàng (lần 02) nên lỗi hoàn toàn thuộc về chị Kim H. Từ những nhận định trên xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị H buộc chị Kim H có nghĩa vụ trả cho chị Thị H số tiền 58.600.000 (Năm mươi tám triệu sáu trăm nghìn) đồng là phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên. Ghi nhận chị Thị H không yêu cầu tính tiền lãi và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chị Tống Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 58.600.000 đồng x 5% = 2.930.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 275, 351, 364; điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Buộc chị Tống Kim H có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị H số tiền 58.600.000 (Năm mươi tám triệu sáu trăm nghìn) đồng. Ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi.
Kể từ ngày chị Trần Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Tống Kim H không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng chị Kim H phải trả cho chị Thị H số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tống Kim H phải chịu 2.930.000 (Hai triệu chín trăm ba mươi nghìn) đồng.
Chị Trần Thị H không phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Hoàn trả cho chị Trần Thị H số tiền 1.465.000 (Một triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0004859 ngày 21/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Tây Ninh; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu tập án; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Thị Kim Thu |