- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh D bị truy tố về tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án:16/2017/HSST Ngày 29/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI – TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Quang Sơn
+ Ông Đào Minh Phấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Hưng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh T, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2017/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2017/QĐXXST-HS ngày 14/8/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh D - sinh năm: 1982, tại KH. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn IV, xã Đ, huyện L, tỉnh H. Nơi cư trú hiện tại: Khu phố 6, phường M, TP. C, tỉnh T; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 02/12; Cha: Nguyễn Văn G, sinh năm 1938 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1953. Vợ: Hồ Thị L, sinh năm 1987; Có 01 người con: Nguyễn Đạt Đ, sinh năm 2011. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 28/02/2017 Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13/6/2017 Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 24 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 36 tháng tù. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2016. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang Tháp Chàm. (có mặt).
- Người bị hại: Ông Lê Tấn N- sinh năm: 1938 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 23/11/2016, Nguyễn Anh D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 99F2-4896 di chuyển trên quốc lộ 1A theo hướng từ Phan Rang đi Nha Trang. Vì trời mưa nên D vào nhà ông Lê Tấn N, sinh năm 1938 ở thôn C, xã H để trú mưa. Khi vào nhà, D nhìn thấy ông N cầm trên tay một máy tính bảng thì D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. D xin uống nước và ngồi nói chuyện với ông N. Trong lúc ngồi nói chuyện, máy tính bảng của ông N báo tín hiệu pin yếu, D nói đưa cho D sạc giúp. Nghe vậy, ông N đưa máy tính bảng cho D, D cầm máy tính bảng ra xe, giả vờ mở cốp xe lấy 01 cục sạc đưa lên cho ông N thấy, sau đó D bỏ cục sạc và máy tính bảng vào trong cốp xe và nhanh chóng tẩu thoát. Quá trình điều tra, D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại biên bản định giá số 02/KL-HĐĐG ngày 15/02/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Ninh Hải kết luận: 01 máy tính bảng hiệu Mobell Tab 8 gold, màu vàng bạc, số IMEI 927016160011843 của ông Lê Tấn N có trị giá là 2.048.000 đồng. Ông N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 99F2-4896 là tài sản do D trộm cắp và được Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm đưa ra xét xử vào ngày 28/02/2017 nên không xem xét.
Bản cáo trạng số 17/2017/VKS-HS ngày 18/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Anh D về tội Cướp giật tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã đầu thú về hành vi phạm tội. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng: phạm tội đối với người già. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 136 Bộ luật hình sự; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 48 tháng tù đến 51 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2016.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và chăm sóc con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và phù hợp với lời khai của người bị hại. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Bị cáo Nguyễn Anh D là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi dân sự. Bị cáo nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do bản tính tham lam, lười lao động mà bị cáo đã bất chấp pháp luật. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, công khai chiếm đoạt máy tính bảng của ông Lê Tấn N rồi nhanh chóng tẩu thoát. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu. Do đó cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc do chính hành vi, hậu quả bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tỏ rỏ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi vụ án bị phát hiện, bị cáo đã đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với người già nên phải chịu thêm một tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự.
Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm xét xử tại bản án số 14/2017/HSST ngày 28/02/2017 và Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử tại bản án số 21/2017/HSST ngày 13/6/2017. Hai bản án trên đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử tổng hợp với bản án xét xử hôm nay để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét về phần trách nhiệm dân sự.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99F2-4896 là phương tiện dùng vào việc phạm tội của bị cáo đã được xử lý tại bản án số 14/2017/HSST ngày 28/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh D 15 (mười lăm) tháng tù.
Áp dụng điều 51 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 14/2017/HSST ngày 28/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “ Cướp giật tài sản” tại bản án số 21/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước với bản án này. Buộc bị cáo Nguyễn Anh D phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 51 (năm mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/11/2016.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xử công khai, có mặt bị cáo, người bị hại. Báo cho bị cáo, người bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Hải; - Công an huyện Ninh Hải; - Bị cáo, bị hại; - Chi cục THADS, THA phạt tù; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hằng Trần Thị Thu Hằng |