vanban.org

Bản án 16/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 28/04/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A; Nam) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A; Nam) 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/12/2016. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Trí Nơi - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A; Nam) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 139 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 16/2017/HSST
Ngày 28 tháng 4 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: ông Võ Phương Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tiền

2. Ông Nguyễn Văn Tâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Đỗ Thị An - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu: ông Trần Thanh Thuận - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2017, tại ấp 3, thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, Tòa án nhân dân huyện Đông Hải tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2017/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A; Nam), sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT: ấp N, xã M, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở: Khóm O, thị trấn L, huyện Q, tỉnh Cà Mau. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: ngư phủ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Con ông Huỳnh Văn C, không rõ năm sinh và bà Đặng Thị D, sinh năm 1968. Tiền án: ngày 10/4/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2014, đã được xóa án tích. Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 30/12/2016 đến ngày 06/01/2017 chuyển tạm giam đến nay.

* Bị hại: anh Phạm Văn B (tên gọi khác: Mực), sinh năm 1987.

Trú tại: ấp E, thị trấn F, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Đình Phú (tên gọi khác: Hào), sinh năm 1981. Trú tại: ấp E, thị trấn F, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

có mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Đặng Trí A (Tên gọi khác: Đặng Chí A, Nam) về hành vi phạm tội như sau: vào khoảng 10 giờ ngày 29/12/2016, tại cửa hàng điện thoại Phú Hào thuộc ấp E, thị trấn F, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo A đã giả vờ hỏi mượn tiền của người khác để trả tiền mua điện thoại nhằm tạo lòng tin cho anh cho Phạm Văn B đứng ra nhận bảo lãnh cho bị cáo A mua điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO màu vàng trắng để bị cáo chiếm đoạt điện thoại và tiền công chuyên chở của anh B với tổng số tiền 4.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 15/CTr-SH ngày 24 tháng 3 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải đã truy tố bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo xuất thân từ thành phần lao động; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A, Nam) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trí A mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Về vật chứng của vụ án: điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO và sim số 0911530463, quá trình điều tra đã xử lý xong là đúng quy định pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: anh Phạm Văn B đã nhận số tiền 500.000 đồng từ gia đình bị cáo bồi thường; anh B cũng không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A, Nam) thừa nhận: vào khoảng 10 giờ ngày 29/12/2016, bị cáo Đặng Trí A không có tiền, nhưng vẫn thuê anh Phạm Văn B (là người chạy xe ôm) chở bị cáo đi từ thị trấn F, huyện P đến thị trấn S, huyện Q, tỉnh Cà Mau với số tiền 500.000 đồng. Khi anh B đồng ý chở bị cáo A, thì bị cáo A kêu anh B chở đến cửa hàng điện thoại Phú Hào thuộc ấp E, thị trấn F, huyện P do anh Nguyễn Đình P làm chủ để mua điện thoại. Bị cáo A đã hỏi mua thiếu 01 cái điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO màu vàng trắng nhưng anh P không đồng ý bán; để tạo lòng tin cho anh P đồng ý bán điện thoại, bị cáo hỏi mượn điện thoại di động của anh P điện thoại cho Thanh Hoàng để giả vờ hỏi mượn số tiền 4.500.000 đồng, rồi đưa điện thoại cho Hoàng nói chuyện với Phú và Đạt thì Hoàng hứa sẽ cho mượn tiền trả. Nên anh B tin tưởng bị cáo A sẽ mượn tiền để trả tiền mua điện thoại và tiền công đi xe ôm, nên anh B đứng ra nhận bảo lãnh cho bị cáo mua điện thoại nêu trên với giá 4.000.000 đồng. Khi anh P đưa điện thoại cho anh B cất giữ thì bị cáo liền lấy điện thoại từ tay anh B rồi bỏ vào túi quần, đến thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, bị cáo liền bỏ trốn để không phải trả cho anh B 4.000.000 đồng tiền mua điện thoại và tiền công đi xe ôm là 500.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Đặng Trí A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có liên quan, Biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện bị cáo A không có tiền nhưng vì muốn có điện thoại di động sử dụng nên bị cáo A đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể trong vụ án này bị cáo A đã chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO bằng cách thức tạo lòng tin để kêu anh B đứng ra bảo lãnh cho bị cáo mua điện thoại của anh Phú, rồi dùng thủ đoạn bỏ trốn để chiếm đoạt.

Tại kết luận giá trị tài sản số 03/HĐ ngày 21/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO màu vàng trắng, số IMEL 359674070301816, có giá trị còn lại vào ngày 29/12/2016 là 4.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Đặng Trí A nêu trên đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo A là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo A thuê anh B chở bị cáo đi từ thị trấn F, huyện P đến thị trấn O, huyện Q, tỉnh Cà Mau là giao dịch dân sự giữa bị cáo A và anh B, thì sau khi anh B đã thực hiện giao dịch thì bị cáo phải có nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận, nên phần này bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán trả cho anh B.

Xét tính chất, hành vi phạm tội: bị cáo A là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi và đủ khả năng lao động để kiếm sống, bản thân bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật; bị cáo đã từng bị xử phạt về hành vi chiếm đoạt tài sản với mức án là 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tuy bị cáo chấp hành xong hình phạt trên, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, không sửa đổi bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, bị cáo lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí còn có hành vi đe dọa anh B khi anh B đi theo bị cáo nhằm lấy lại tài sản và nhận tiền. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn tạo tâm lý bất ổn trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. Do đó cần có mức án tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với Thanh Hoàng là người đã hứa hẹn cho bị cáo mượn tiền nhưng đã không biết được việc bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng trong vụ án: điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO màu vàng trắng, số IMEL 359674070301816 mà bị cáo A chiếm đoạt, khi bị bắt đã thu hồi được, quá trình điều tra đã trả lại cho người bị hại là anh Phạm Văn B, anh B đã giao trả lại cho anh Nguyễn Đình Phú là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với sim số điện thoại có số thuê bao 0911530463 của bị cáo A đã gắn vào điện thoại di động chiếm đoạt của amnh Đạt để sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy sim số trên không liên quan đến vụ án, quá trình điều tra bị cáo A có yêu cầu trả lại cho mẹ của bị cáo là bà Đặng Thị N, Cơ quan điều tra đã trả sim số trên cho bà N là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo đã trả cho anh Phạm Văn B số tiền 500.000 đồng mà bị cáo A thuê anh B chạy xe chở bị cáo A từ thị trấn E đến thị trấn O; anh Nguyễn Đình P đã nhận lại điện thoại di động hiệu Q-LUNA PRO; cả anh B và anh P không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo Đặng Trí A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A; Nam) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Đặng Trí A (tên gọi khác: Đặng Chí A; Nam) 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/12/2016.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Đặng Trí A (Tên gọi khác: Đặng Chí A, Nam) phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Án xử sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ