- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tấn L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN Bản án số: 16/2017/HSST Ngày: 12 - 9 - 2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Dình.
Ông Trần Quang Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Vũ - Kiểm Sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2017/HSST-QĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:
Dương Tấn L (Bóng biển), sinh ngày 26/12/1990.
Nơi cư trú: thị trấn V, huyện C, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: làm thuê.
Trình độ văn hóa: 08/12.
Con ông Dương Văn T, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1969.
Vợ, con: chưa có.
Anh, chị, em ruột: có 01 người em, sinh năm 1993.
Tiền sự: không.
Tiền án: 01 lần. Vào ngày 02/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xử phạt 04 tháng 12 ngày, về tội: “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/8/2016 đến ngày 03/02/2017, cho gia đình bảo lãnh. Sau đó bắt tạm giam theo lệnh truy nã từ ngày 18/7/2017 cho đến nay; có mặt.
Người bị hại: Ông Lê Tuấn K (Lé), sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.
2. Ông Huỳnh Thanh T (Tửng), sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.
3. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.
2. Ông Trần Minh T, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 24/01/2016, tại nhà Lê Tuấn K, sinh năm 1993 cư ngụ ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An tổ chức uống rượu với Huỳnh Thanh T, Nguyễn Hoàng Tuấn K và một số người khác. Khoảng 15 giờ cùng ngày có Dương Tấn L đến chơi, do L nẹt bô xe nên Lê Tuấn K, Nguyễn Hoàng Tuấn K và Huỳnh Thanh T cự cãi với L và đánh L bằng tay, nhưng không gây thương tích. Sau đó L đi lấy mã tấu tự chế bằng kim loại, cán dài khoảng 15cm, lưỡi dài khoảng 50cm, độ dày của lưỡi khoảng 03mm, cất giấu vào yên xe rồi quay lại tìm nhóm của Lê Tuấn K. Lúc này Lê Tuấn K, Nguyễn Hoàng Tuấn K, Huỳnh Thanh T và Huỳnh Văn M đến chơi nhà người bạn ở ấp Đ, xã A, huyện C, Long An. Trên đường đi phát hiện L đậu xe và rút mã tấu nên Huỳnh Văn M hô la thì cả nhóm bỏ chạy. Lê Tuấn K chạy vào vườn thanh long, L cầm mã tấu đuổi theo đến khi đứng đối diện với K, thì L cầm mã tấu bằng tay phải chém 01 nhát từ trên xuống, từ phải sang trái trúng tay trái của K, làm K té ngửa xuống rảnh nước. L tiếp tục chém thì K đưa chân phải lên đỡ, nên trúng vào chân phải 02 nhát. L đâm vào bụng K 01 nhát, thì K dùng tay trái chụp mã tấu, nên có 01 vết thương ở mu bàn tay và 01 vết thương ở lòng bàn tay trái. Sau đó, L tiếp tục đâm 01 nhát trúng bụng và 01 nhát trúng phía trên ngực trái của K thì L dừng lại. Lúc này, L thấy có Huỳnh Văn M chạy đến nên L kêu Mới đưa K đi cấp cứu. L bỏ về còn Lê Tuấn K được mọi người đưa đi bệnh viện. Trên đường đi, L ném mã tấu xuống kênh T, thuộc ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Long An nên quá trình điều tra không thu giữ được hung khí.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 89/TgT.15 - PY ngày 10/5/2016, của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Long An kết luận tình trạng thương tích của Lê Tuấn K như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định: 02 sẹo vết thương bụng phải, hạ sườn phải kích thước: 07 cm x 0,5 cm; 02 cm x 0,5 cm lành. Sẹo mổ đường trắng giữa bụng, trên dưới rốn kích thước: 11,5 cm x 0,5 cm, sẹo lồi. Sẹo dẫn lưu bụng trái kích thước: 02 cm x 0,2 cm lành. Sẹo vết thương 1/3 dưới cánh tay trái kích thước: 09 cm x 0,7 cm lành. Sẹo vết thương mặt sau cẳng tay trái kích thước: 1,5 cm x 0,4 cm lành. Sẹo vết thương mặt mu bàn tay trái, kẽ ngón 3,4 kích thước: 4,5 cm x 0,5 cm lành. Sẹo vết thương mặt lòng ngón 4 bàn tay trái kích thước: 1,5 cm x 0,1 cm lành. 02 sẹo vết thương gót chân phải kích thước mỗi sẹo 02 cm x 0,1 cm lành. Gãy xương gót phải. Hiện tồn tại phương tiện kết hợp xương, can xương tốt. Vết thương bụng gây thủng ruột 4 lỗ. Khâu cầm máu mạc treo.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 68% (sáu mươi tám phần trăm).
Bị cáo Dương Tấn L và người bị hại Lê Tuấn K đồng ý với kết luận giám định, không có ý kiến gì.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 374/LKGĐ ngày 28/02/2017, của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với bị cáo Dương Tấn L như sau:
Về y học: hiện tại tâm thần bình thường/tiền sử ghi nhận có loạn thần do sử dụng rượu.
Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: bị cáo Dương Tấn L đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, thương tích của bị hại do bị cáo gây ra.
Tại bản cáo trạng số 19/QĐ-KSĐT ngày 15/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An truy tố bị cáo Dương Tấn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Dương Tấn L theo tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 104, Điều 33, 45, điểm đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.
Phần bồi thường dân sự: Bị hại Lê Tuấn K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Do mâu thuẫn trước đó, nên khoảng 15 giờ ngày 24/01/2016, tại ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Long An, Dương Tấn L dùng mã tấu tự chế chém và đâm nhiều nhát vào tay, chân và vùng bụng của bị hại Lê Tuấn K. Hậu quả tỷ lệ thương tật qua giám định đối với Lê Tuấn K là 68%.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng.
Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Dương Tấn L đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Châu Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
a) Dùng hung khí nguy hiểm
....
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự xã hội, bị cáo dùng mã tấu là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người bị hại. Bị cáo có đầy đủ nhận thức để thấy rõ hành vi của mình là nguy hiểm và thấy trước hậu quả của hành vi do mình gây ra nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, bị cáo đã có lỗi cố ý trực tiếp gây thương tích cho bị hại Lê Tuấn K. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác mà còn thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần xử lý nghiêm theo pháp luật, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, người bị hại có một phần lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Vào ngày 02/3/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt 04 tháng 12 ngày, về tội: “Đánh bạc”, bị cáo chưa được xóa án tích, do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Dương Tấn L nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa bị hại Lê Tuấn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim T không yêu cầu bị cáo Dương Tấn L phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về vật chứng: Đối với mã tấu tự chế bằng kim loại, cán dài khoảng 15cm, lưỡi dài khoảng 50cm, độ dày của lưỡi khoảng 03mm, sau khi gây thương tích cho K bị cáo L đã ném xuống kênh, trong quá trình điều tra không thu giữ được hung khí nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo Dương Tấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dương Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 3 Điều 104, Điều 33, 45, điểm đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Tấn L 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/7/2017 (bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 04/8/2016 đến ngày 03/02/2017).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Tấn L với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/9/2017) để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Dương Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND, CA huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Bị cáo, người bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |