vanban.org

Bản án 16/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đàm Thị G và anh Đỗ Văn D.

Về nuôi con chung: Giao con chung Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2017 cho chị Đàm Thị G trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị G và anh D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đàm Thị G và anh Đỗ Văn D.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN D
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2017
V/v ly hôn giữa chị G và anh D

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thuỳ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Thương

2. Bà Tạ Thị Hương

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Đậm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 86/2017/TLST- HNGĐ ngày 01/8/2017 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2017/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2017/QĐHPT ngày 26/9/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đàm Thị G, sinh năm 1990. Có mặt

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên,

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn D, sinh năm 1989. Vắng mặt

ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 3C phường H, quận D, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-7-2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Đàm Thị G trình bày:

Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Đỗ Văn D tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 6-9-2016 (giấy đăng ký số 31). Trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được khoảng 3 tháng đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh D chơi bời không chịu làm ăn để lo kinh tế cho gia đình, anh D còn sử dụng ma túy tổng hợp. Mặc dù tôi đã khuyên nhủ và động viên anh D xin và làm việc tại Công ty nhưng anh D không nghe. Sau khi chị sinh con được khoảng hơn 1 tháng thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Anh D đã ngăn cản chị trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con từ khi con 4 tháng tuổi đến nay. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng ngày càng căng thẳng, không thể hàn gắn được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị xin ly hôn với anh D.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2017. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của đương sự đề ngày 11-8-2017 và trong quá trình giải quyết, bị đơn Đỗ Văn D trình bày:

Về hôn nhân: Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Đàm Thị G trình bày là đúng. Năm 2016 vợ chồng xây dựng gia đình với nhau và sống cùng bố mẹ đẻ anh, vợ chồng chỉ có những mâu thuẫn nhỏ, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nay chị G làm đơn xin ly hôn anh, quan điểm của anh nếu như vợ anh không còn tình cảm với anh nữa thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng anh có một con chung là cháu Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2017. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành hòa giải tại Tòa án, nhưng anh Đỗ Văn D không ký vào biên bản mặc dù đã được Tòa án giải thích quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Tại phiên tòa chị Đàm Thị G vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn và xin nhận được nuôi con Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2017, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận D tham gia phiên tòa nhận xét về quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án nhân dân quận D từ khi thụ lý vụ án đến trình tự tố tụng, nội dung giải quyết vụ án tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận D đều tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Tố tụng dân sự: Chị Đàm Thị G có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D giải quyết vụ án hôn nhân giữa chị và anh D. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Đàm Thị G và anh Đỗ Văn D là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Từ tháng 5 năm 2017 hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị G có đơn xin ly hôn với anh D. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G.

Về nuôi con chung: Chị G và anh D có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2017, mặc dù chị G và anh D đều có nguyện vọng được nuôi con nhưng cháu Đỗ Thị Bảo A dưới 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị G là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật nên giao con cho chị G trực tiếp nuôi theo các quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị G và anh D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147 bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đàm Thị G và anh Đỗ Văn D.

2.Về nuôi con chung: Giao con chung Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2017 cho chị Đàm Thị G trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Chị Đàm Thị G phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị G đã nộp theo Biên lai số 5810 ngày 25-7-2017 tại Chi cục thi hành án Dân sự quận D, thành phố Hải Phòng. Chị G đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Chị Đàm Thị G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Đỗ Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ ./.

Cỡ chữ