- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Dân sự"
- Tòa quyết gì? 688 BLDS 2015; Điều 75 Luật đ t đai năm 1993, Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 10 Nghị định số 17/1999/NĐ-CP Về thủ tục chuyển đổi, chuyển như…; Điều 11 Nghị định số 17/1999/NĐ-CP Về thủ tục chuyển đổi, chuyển như…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 16/2017/DS-ST Ngày: 25-9-2017 V/v: Tranh ch p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Minh Nhựt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thái Thân;
2. Bà Hoàng Thị Xoan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Anh Vũ là thẩm tra viên của Tòa án nhân dân
huyện Đơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên toà: ông
Nguyễn Văn Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2016/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2016 về
“Tranh ch p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 39/2017/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Hùng S, sinh năm: 1958; địa chỉ: 59 thôn Suối Thông
C2, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Bị đơn: Ông Lê Văn S1, sinh năm: 1951; địa chỉ: 74 thôn Suối Thông C2, xã Tu
Tra, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng T, sinh năm: 1942; địa chỉ: 123
thôn Suối Thông C2, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, ông Phạm Hùng S (ông
S) cho rằng:
Năm 1996 ông mua của ông Lê Văn S1 (ông S1) 2.400m2 đ t thửa 100 tờ bản
đồ số 04 xã Tu Tra. Theo gi y chứng nhận QSD đ t hiện nay của ông Hoàng T (ông
T) là 2.424m2 với giá là 4,5 chỉ vàng 24K. Nguồn gốc thửa đ t này của ông T. Ông S1
nói ông T đã bán thửa đ t này cho ông S1. Hai bên viết gi y tay, thoả thuận việc mua
bán bằng “gi y sang nhượng đ t khai hoang” ghi ngày 01/2/1996. Viết gi y xong, ông đề nghị ông S1 giao gi y mua bán giữa ông T và ông S1 cho ông. Ông S1 nói gi y bị m t trong quá trình làm nhà. Ông S1 đề nghị cùng ông đến nhà ông T để làm lại gi y mua bán đ t giữa ông S1 và ông T nhưng ông T không làm. Lúc đó, do ông có nhận chuyển nhượng của ông T thửa đ t số 218 cạnh thửa đ t 100 nên ông có biết thửa đ t 100 là của ông T, gi y chứng nhận QSD đ t đứng tên ông T và đang được thế ch p tại ngân hàng. Do tin tưởng ông S1 và ông T, thời gian đó, việc mua bán ai cũng viết gi y tay, không hiểu luật pháp nên ít khi phải đi công chứng, chứng thực. Do vậy, ông mới mua thửa đ t 100 nói trên và đề nghị ông S1 phải viết vào gi y sang nhượng đ t khai hoang “số diện tích trên ông sang lại của ông Hoàng T trên số thửa 100. Diện tích 2.400m2”. Thực tế, diện tích đ t nói trên là 2.424m2. Năm 2009, ông T lên phá cà phê do ông trồng trên thửa 100 nói trên. Ông có báo công an can thiệp, sau đó sự việc đã được Toà án giải quyết việc ông T phải bồi thường cho ông 72.600.000 đồng. Hiện nay, ông T có gi y chứng nhận QSD đ t và đến đe doạ, tự l y lại thửa đ t nói trên. Việc ông S1 bán đ t cho ông thì ông S1 phải có trách nhiệm bồi thường cho ông giá trị đ t bởi hợp đồng này không thể tiếp tục thực hiện được. Ông thống nh t với giá trị đ t đã được hội đồng định giá xác định. Theo biên bản định giá tài sản thì giá trị thửa đ t tranh ch p theo giá thị trường hiện nay là 533.280.000 đồng. Ông yêu cầu ông S1 phải trả lại diện tích đ t khác tương đương với thửa 100 đã bán cho ông hoặc trả cho ông số tiền 400.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, ông S cho rằng trong hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t giữa ông và ông S1 thì cả hai bên cùng có lỗi. Tuy nhiên lỗi phần lớn là của ông S1. Do vậy ông đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, xác định ông có lỗi 30% và ông S1 có lỗi 70% và buộc ông S1 phải bồi thường 70% thiệt hại dựa trên giá trị thửa đ t tại thời điểm hiện tại đã được định giá là 533.280.000 đồng theo biên bản định giá tài sản ngày 24/4/2017.
Trong các lời khai và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Lê Văn S1 trình
bày:
Năm 1993 ông nhận chuyển nhượng thửa đ t 100 nói trên của ông T giá 02 chỉ
vàng 24K. Năm 1996, ông chuyển nhượng lại cho ông S với giá là 4,5 chỉ vàng 24K (có viết gi y tay). Lúc đó, ông S yêu cầu ông đưa gi y mua bán đ t giữa ông với ông T. Ông nói với ông S là khi ông làm nhà thì gi y mua bán đã th t lạc, nếu muốn, ông đưa xuống nhà ông T để xác nhận việc ông T đã bán đ t cho ông để ông bán cho ông S. Ông T nói sổ đỏ đang thế ch p ngân hàng, khi nào l y sổ đỏ về thì ông sẽ làm thủ tục sang nhượng cho ông S vì lúc đó ông T cũng có chuyển nhượng cho ông S thửa đ t 218 cạnh thửa 100. Do vậy, ông S nói ông viết thêm vào gi y mua bán nói trên với nội dung: “Số diện tích trên tôi sang lại của ông Hoàng T”. Ghi xong nội dung này, ông S giao 4,5 chỉ vàng 24K cho ông. Do ông S đã sử dụng đ t một thời gian dài, đã thu được nhiều hoa lợi từ việc sử dụng đ t, việc chuyển nhượng này ai cũng có lỗi. Tại phiên tòa hôm nay, ông không đồng ý với yêu cầu bồi thường 70% giá trị thiệt hại cho ông S như ông S đã yêu cầu. Ông cũng không có diện tích đ t khác tương đương để giao lại cho ông S. Ông ch p nhận bồi thường một phần thiệt hại cho ông S g p 5 lần số vàng 4,5 chỉ vàng 24K ông đã nhận của ông S là 22.5 chỉ vàng 24K.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng T trình bày: thửa đ t số 100
nói trên ông cho ông S1 thuê trong thời hạn 10 năm kể từ năm 1996. Giá thuê là 0,5
chỉ vàng 24K. Ông không chuyển nhượng đ t cho ông S1 02 chỉ vàng 24K như ông S1
trình bày. Sau khi cho ông S1 thuê đ t, ông nghĩ là ông S1 đang sử dụng đ t mà không
phải ông S. Cho đến năm 1999, ông th y đ t có trồng cà phê nhưng là cây con. Ông có
hỏi ông S1 đ t thuê mà trồng cà phê thì sau này tính sao. Ông S1 nói sau này đ t của
anh thì anh l y lại có sao đâu. Ông nhớ có một lần ông S và ông S1 có xuống nhà ông
yêu cầu ông viết gi y sang nhượng cho ông S thửa đ t 218, tờ bản đồ số 04, xã Tu Tra
của ông cũng bên cạnh thửa 100 nói trên. Ông cũng đã viết gi y sang nhượng thửa 218
này cho ông S thì ông S1 có ký làm chứng còn không đề cập đến thửa 100 nào cả vì
ông không chuyển nhượng thửa đ t 100 cho ông S1. Nay, thửa đ t số 100 nói trên ông
l y lại sử dụng. Việc tranh ch p đ t giữa ông S và ông S1 ông không liên quan đến. Đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương có quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh ch p hợp đồng
chuyển nhượng QSD đ t theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương .
Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, l y lời khai của đương sự, việc c p tống đạt các gi y tờ
cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử ch p hành đầy đủ và đúng
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án: Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Phạm Hùng S; Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Phạm
Hùng S và ông Lê Văn S1 vô hiệu. Buộc ông Lê Văn S1 hoàn trả cho ông Phạm
Hùng S 4,5 chỉ vàng 24K quy đổi thành tiền là 16.218.000 đồng; Về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại: Cần buộc ông S1 bồi thường thiệt hại do hợp đồng chuyển
nhượng QSD đ t bị vô hiệu là: 517.062.000đ x 70% = 361.943.400đ giá trị thiệt
hại do hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t bị vô hiệu; do bị đơn là người cao tuổi,
có đơn xin miễn án phí nên cần ch p nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh ch p: Theo gi y viết tay đề “Gi y sang nhượng
đ t khai hoang” ghi ngày 01/02/1996 thể hiện: ông S1 có sang nhượng cho ông S diện tích đ t 2.400m2 với giá 4,5 chỉ vàng 24K”. Tại thời điểm lập gi y sang nhượng đ t nói trên phù hợp với quy định tại Điều 705 Bộ luật dân sự năm 1995. Sau khi nhận chuyển nhượng đ t, ông S đã trả 4,5 chỉ vàng 24K và nhận đ t và canh tác, trồng cà phê nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng QSD đ t theo quy định do ông Hoàng T đến phá cà phê l y lại đ t sử dụng. Do không thể thực hiện được quyền sử dụng đ t theo hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t với ông S1, nên ông S yêu cầu ông S1 giao đ t đ t khác có diện tích tương đương hoặc bồi thường cho ông 70% giá trị phần thiệt hại theo giá đ t đã được định giá. Ông S1 không đồng ý với yêu cầu của ông S nên phát sinh tranh ch p. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định đây là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về thời hiệu khởi kiện: Mặc dù giữa ông S và ông S1 thỏa thuận chuyển
nhượng đ t từ năm 1996, hai bên đã giao đủ tiền, vàng và nhận đ t để sử dụng, nhưng chưa hoàn t t thủ tục chuyển nhượng. Quá trình giải quyết vụ án, ông S cho rằng sau khi ông T phá cà phê và l y lại đ t năm 2009 đến nay ông vẫn liên tục gặp và nhiều lần thương lượng yêu cầu ông S1 bồi thường, nhưng ông S1 không ch p nhận bồi thường giá trị đ t cho ông. Ông S1 cũng thừa nhận từ năm 2009 đến năm 2016 ông S nhiều lần yêu cầu ông bồi thường giá trị đ t đã bị ông Hoàng T l y lại nhưng ông chỉ ch p nhận trả lại số vàng đã nhận của ông S chứ không có đ t hay tiền để đền bù theo như yêu cầu của ông S. Như vậy, ông S1 đã liên tục thừa nhận nghĩa vụ của mình với ông S đối với việc chuyển nhượng thửa đ t số 100 nói trên cho đến thời điểm ông S khởi kiện. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại kể từ sau thời điểm ông S1 thừa nhận nghĩa vụ của mình. Ngày 25/10/2016 Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương nhận được đơn khởi kiện của ông S nên thời hiệu khởi kiện trong vụ án này vẫn còn nên Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thống nh t với kết quả đo
vẽ và định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản ngày 24/4/2017 xác định. Qua đo vẽ hiện trạng thực tế thì diện tích đ t thực tế theo hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t giữa các bên là 2.424 m2 thửa 100, tờ bản đồ số 4, xã Tu Tra. Giá thị trường của diện tích đ t nói trên là 533.280.000 đồng. Ngoài ra tại phiên tòa hôm nay, các bên đương sự thống nh t được với nhau về giá vàng 24K tại thời điểm hiện tại là 3.604.000đ/01 chỉ.
Xét hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t giữa ông S với ông S1 bằng gi y
viết tay có nội dung là “gi y sang nhượng đ t khai hoang” thể hiện rõ ông S1 có một số đ t diện tích là 2.400m2 mà không sử dụng và sang lại cho ông S với số tiền là 4,5 chỉ vàng 24K. Việc chuyển nhượng này, ông S đã giao đủ tiền, vàng cho ông S1 và đã nhận đ t để sử dụng. Tuy nhiên, khi chuyển nhượng hai bên không lập hợp đồng có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
Do thời điểm chuyển nhượng QSD đ t giữa ông S và ông S1 vào năm 1996,
ông S đã sử dụng diện tích đ t trên đến năm 2009 thì ông T đến phá cà phê và phát sinh tranh ch p với ông T. Trong suốt thời gian này, giữa các bên đương sự không thực hiện b t kỳ hành vi nào khác để hoàn t t thủ tục chuyển nhượng QSD đ t nói trên
theo quy định của Luật đ t đai năm 1993, khoản 1 Điều 10, khoản 1, 2, 3, 4 Điều 11
của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ quy định về thủ tục
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế QSD đ t và thế ch p, góp
vốn bằng giá trị QSD đ t. Do hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t ngày 01/02/1996 nêu
trên giữa ông S và ông S1 chỉ là gi y viết tay, không lập hợp đồng chuyển nhượng
QSD đ t theo quy định tại Nghị định 17/1999/NĐ-CP. Theo quy định tại các Điều
131, 133, 136 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì hợp đồng chuyển nhượng QSD diện
tích đ t 2.424m2 ngày 01/02/1996 (bằng gi y tay) giữa ông S và ông S1 vô hiệu nên
cần phải hủy.
Trong vụ án này, ông S1 cho rằng ông đã nhận chuyển nhượng phần đ t trên
của ông T nhưng ông T không thừa nhận đã chuyển nhượng đ t cho ông S1. Ông S1
không có chứng cứ gì khác chứng minh ông T đã chuyển nhượng diện tích đ t
2.424m2 cho ông. Do vậy, cần xác định thửa đ t nói trên là của ông T. Việc ông S trả
lại đ t cho ông T sử dụng là phù hợp. Do ông S đã giao trả lại phần đ t trên cho ông T,
không yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mà chỉ yêu cầu ông S1 bồi thường thiệt hại.
Xét yêu cầu này của ông S phù hợp với quy định tại điều 136 Bộ luật dân sự năm
1995. Hội đồng xét xử xét th y chỉ cần xem xét giải quyết hậu quả pháp lý của hợp
đồng vô hiệu trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của ông S là phù hợp với quy định của pháp
luật.
Theo quy định tại điều Điều 146 Bộ luật dân sự năm 1995 thì: “1- Giao dịch
dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm
xác lập; 2- Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải
hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường…”. Khi chuyển nhượng
thửa đ t nói trên, hai bên thỏa thuận giá trị là 4,5 chỉ vàng 24K, ông S1 đã nhận đủ số
vàng; ông S cũng đã nhận đ t để sử dụng. Do đó, ông S1 phải trả lại 4,5 chỉ vàng 24K
đã nhận cho ông S. Theo quy định của pháp luật về điều kiện giao dịch bằng vàng đối
với tổ chức, cá nhân thì hiện nay, khi Tòa án giải quyết phải quy đổi vàng thành tiền.
Căn cứ vào giá vàng vào thời điểm ngày 25/9/2017 tại website của Công ty TNHH
một thành viên vàng bạc đá quý Phú Nhuận thì giá vàng 24K là 3.604.000đ/01 chỉ nên
4,5 chỉ vàng 24K quy đổi thành tiền là 16.218.000đ, ông S1 phải hoàn trả cho ông S
số tiền 16.218.000đ; còn ông S phải trả lại diện tích đ t 2.424m2 thửa 100 tờ bản đồ số
4 xã Tu Tra đã nhận cho ông S1. Tuy nhiên, do hiện tại diện tích đ t trên ông S đã
giao lại cho chủ sử dụng là ông T nên không thể giao trả lại đ t cho ông S1 được. Do
vậy, Tòa án cần căn cứ giá trị đ t đã được định giá ngày 24/4/2017 để làm căn cứ giải
quyết vụ án.
Theo hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t nói trên giữa ông S và ông S1 th y
rằng, việc chuyển nhượng đ t giữa các bên không tuân thủ theo đúng quy định của
pháp luật (ông S1 cho rằng ông đã nhận chuyển nhượng của ông T nên chuyển nhượng
lại cho ông S. Giữa ông S1 và ông T không có gi y chuyển nhượng. Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đ t giữa ông S1 với ông S chỉ lập gi y tay). Như vậy, khi chuyển
nhượng thì diện tích đ t 2.424m2 đ t này vẫn đang thuộc quyền sử dụng của ông T,
không phải của ông S1.
Xét nguyên nhân dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t của các bên
đương sự vô hiệu th y rằng: Khi chuyển nhượng QSD diện tích đ t 2.424m2 nói trên, cả ông S và ông S1 đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoàn toàn tự nguyện, nhận thức rõ về việc chuyển nhượng nhưng không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét lỗi của ông S1 là phần lớn, bởi lẽ, ông đã giao đ t, nhận đủ số vàng chuyển nhượng từ ông S, đã cam kết với ông S “kể từ nay diện tích trên giao toàn quyền sử dụng cho ông Phạm Hùng S, nếu ai khiếu nại diện tích trên tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm” và thừa nhận “diện tích trên tôi sang lại của ông Hoàng T trên số thửa 100 diện tích 2.400m2”. Chính vì ông khẳng định như vậy, nên đã tạo lòng tin cho ông S rằng thửa đ t trên là của ông. Quá trình ông S sử dụng đ t từ năm 1996, ông S đã trồng cây cà phê, canh tác ổn định cho đến năm 2009 mới bị ông T đến phá cây cà phê đòi lại đ t thì ông mới biết đ t này ông T không chuyển nhượng cho ông S1. Do vậy, ông S1 đã không đảm bảo quyền sử dụng đ t đã chuyển nhượng cho ông S, vi phạm những cam kết của mình nên phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông S là có căn cứ; Về phía ông S, sau khi thỏa thuận nhận chuyển nhượng diện tích đ t trên từ ông S1 nhưng do đ t của ông T đang thế ch p tại ngân hàng và do tin tưởng vào cam kết của ông S1 ghi trong gi y sang nhượng đ t khai hoang nên đã yên tâm thực hiện quyền sử dụng đ t của mình theo hợp đồng trong một thời gian dài. Ông S đã trồng cây lâu năm mà không có ai tranh ch p. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t nói trên bị vô hiệu thì lỗi của ông S1 là 70% và lỗi của ông S là 30%.
Khi chuyển nhượng đ t thì hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 4,5 chỉ
vàng 24K, các bên thống nh t giá vàng 24K tại thời điểm hôm nay là này là 3.604.000đ/01chỉ. Do đó, tổng giá trị chuyển nhượng sẽ là 16.218.000đ (3.604.000đ/01chỉ x 4,5 chỉ). Mặt khác, hai bên đều thống nh t diện tích đ t 2.424m2 là diện tích đ t tranh ch p theo hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thì diện tích đ t trên hiện nay có giá thị trường là 533.280.000đ (220.000đ/m2). Như vậy, giá trị QSD đ t các bên thỏa thuận chuyển nhượng so với giá thị trường hiện nay chênh lệch 517.062.000đ (533.280.000đ – 16.218.000đ). Do đó, các bên phải chịu thiệt hại của hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t vô hiệu tương ứng với phần lỗi của mình. Theo đó, ông S1 phải chịu 361.943.400đ (517.062.000đ x 70%); ông S phải chịu là 155.118.600đ (517.062.000đ x 30%) nên ông S1 phải bồi thường cho ông S số tiền 361.943.400đ.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và
quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử th y rằng cần ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD diện tích 2.424m2 đ t thửa 100, tờ bản đồ số 4 xã Tu Tra (bằng gi y viết tay) giữa ông S và ông S1 là vô hiệu và hủy hợp đồng này. Buộc ông Lê Văn S1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hùng S 4,5 chỉ vàng 24K thành tiền 16.218.000đ và 361.943.400đ giá trị thiệt hại do hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t bị vô hiệu, tổng cộng là 378.161.400đ.
Về chi phí đo vẽ và định giá: Chi phí đo vẽ và định giá là 1.800.000đ, tại
phiên tòa hôm nay, nguyên đơn nhận chịu chi phí này và đã nộp đủ nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 thì ông S1 là
người cao tuổi (sinh năm 1951). Ông có đơn xin miễn án phí. Theo quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của
UBTV Quốc Hội cần ch p nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho ông S1 là đúng quy định của
pháp luật. Ông Phạm Hùng S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 131, 133, 136, 703, 705 của Bộ luật dân sự năm 1995; các
Điều 122, 127, 134, 136, 137, 162, 305, 697 của Bộ luật dân sự 2005; các Điều 357,
688 BLDS 2015; Điều 75 Luật đ t đai năm 1993, Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật
đ t đai 2013; Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Các Điều 10, 11 Nghị định
17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ; điểm a, tiểu mục 2.3, mục 2, phần II
Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao; Căn cứ 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, c khoản 1 Điều 39,
các Điều 146, 205, 211, 220, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội;
Xử:
1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Hùng S.
2. Tuyên bố đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đ t 2.424m2, thửa
100, tờ bản đồ số 4 xã Tu Tra ngày 01/02/1996 (bằng gi y viết tay) giữa ông Phạm
Hùng S với ông Lê Văn S1 vô hiệu và hủy hợp đồng này.
3. Buộc ông Lê Văn S1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hùng S số tiền
378.161.400đ (Ba trăm bảy mươi tám triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn bốn trăm
đồng).
4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, t t cả các khoản tiền hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi su t quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
5. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Văn S1. Hoàn
trả cho ông Phạm Hùng S số tiền 7.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số AA/2015/0003318 ngày 17/11/2016 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đơn Dương.
6. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm
theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c-ưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đơn Dương; - Chi cục THADS huyện Đơn Dương; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. pháp luật. đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Xoan Huỳnh Thái Thân vi dân sự đầy đủ, hoàn toàn tự nguyện, biết rõ các quy định của pháp luật về chuyển nhượng QSD đ t và đều biết được diện tích đ t này vẫn thuộc quyền sử dụng của ông Hoàng T nhưng các bên vẫn thỏa thuận chuyển nhượng là chưa đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng QSD đ t nói trên bị vô hiệu thì lỗi của các bên là bằng nhau (mỗi bên có lỗi 50%). | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Minh Nhựt để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm theo quy định của đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Minh Nhựt Khi chuyển nhượng QSD diện tích 279m2 đ t nói trên thì ông S và ông S1 đều có năng lực hành |