- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Lê Thị Tuyết V - Lê Thị Ngọc A"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1593/2023/DS-ST Ngày: 31-8-2023 V/v “Tranh chấp về cử người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Cương
2. Ông Nguyễn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2020/DSST ngày
16/01/2020 về việc “Tranh chấp về cử người giám hộ cho người mất năng lực
hành vi dân sự”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2941/2023/QĐXXST-DS ngày
20 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10506/2023/QĐST-DS
ngày 08 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Phường M, Quận S, Thành phố H.
2. Bị đơn:
2.1 Bà Lê Thị Ngọc A, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Phường M, Quận S, Thành phố H.
2.2 Bà Lê Thị Mỹ P, sinh năm 1957 (đã chết ngày 14/12/2022);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Mỹ P: Ông
Ngô Tiến S, sinh năm 1991. Phường B, Quận S, Thành phố H.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Lê Văn M, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Canada.
3.2 Bà Lê Thị N, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Phường H, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3 Bà Lê Thị Tuyết H, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Phường M, Quận S, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện bà Lê Thị Tuyết V trình bày:
Bà Lê Thị Tuyết V yêu cầu Tòa án giải quyết: Chỉ định bà là người
giám hộ cho ông Lê Thái Stheo quy định pháp luật, ông Slà em ruột của bà bị mất năng lực hành vi dân sự.
Ông Lê Thái S đã bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự theo
Bản án số 204/2019/QĐDS-PT ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật.
Bà V có liên hệ Ủy ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố H làm
thủ tục giám hộ cho ông Sthì bị từ chối vì cho rằng việc giám hộ của bà có tranh chấp với các anh chị em trong gia đình.
Từ khi cha mẹ mất, ông Ssống với bà V cho đến nay đã hơn 30 năm.
Ông Scó nhiều bệnh, đi lại rất yếu, bà V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ông Sơn. Do đó, bà V yêu cầu Tòa án chỉ định bà là người giám hộ cho ông Sơn, nhằm đảm bảo cuộc sống cho ông Sơn.
Bị đơn bà Lê Thị Ngọc A trình bày:
Bà là chị gái của ông S, bà xác nhận từ khi cha mẹ chết, bà V đã trực
tiếp nuôi ông Lê Thái S, tuy nhiên bà không đồng ý cử bà V làm giám hộ cho ông Sơn, lý do không đồng ý cử bà V làm giám hộ cho ông Sbà cũng không nêu được, bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Mỹ P (bà
Phượng là chị ruột của ông Sơn) là ông Ngô Tiến S trình bày:
Cũng như bà Lê Thị Ngọc A, ông cũng không đồng ý cử bà V làm giám
hộ cho ông Sơn, tuy nhiên ông cũng không cử ai làm người giám hộ cho ông Svà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M trình bày: Ông
M là anh ruột của ông S, hiện ông M đang ở Canada. Ông S đã sống với bà V
từ nhỏ cho đến nay. Do đó, ông đồng ý cử bà V làm người giám hộ cho ông
Sơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N trình bày: Bà đồng
ý cử bà V làm giám hộ cho ông S vì bà V đã chăm sóc nuôi dưỡng ông Shơn
30 năm nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết H vắng mặt và
không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa:
Bà Lê Thị Tuyết V trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề
nghị Tòa án cử bà làm giám hộ cho ông Stheo quy định pháp luật.
Bà Lê Thị Ngọc A trình bày: không đồng ý cử bà V làm giám hộ, đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực
hiện đúng theo quy định pháp luật;
Về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ
vụ án và tranh luận tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
của Bà V chỉ định bà V làm người giám hộ cho ông Lê Thái S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử
nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng:
Ngày 30/12/2019 và ngày 23/5/2023 bà Lê Thị Tuyết V nộp đơn khởi
kiện đối với bà Lê Thị Ngọc A hiện cư trú tại 63/1 Đường số 5, Phường M,
Quận S, Thành phố H, yêu cầu Tòa án chỉ định bà V là người giám hộ cho
ông Lê Thái S; trong tranh chấp này ông Lê Văn M là người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan cư trú tại: 69 Rue Simonds Sud, Grand, Quebec J2G 7Z6
Canada. Do đó, đây là tranh chấp về việc cử người giám hộ thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Khoản 1 Điều 54 Bộ
luật
Dân
sự
và
Khoản
14
Điều
26,
điểm
c
Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét ông Sỹ là bị đơn và ông Minh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Hồng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản1, 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.
. Xét yêu cầu của đương sự: Theo Bản án số 204/2019/QĐDS- PT
ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H giải quyết việc dân sự tuyên bố ông Lê Thái S– sinh năm 1967 mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ lời khai của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Schưa có vợ con, có cha và mẹ đều đã chết hơn 30 năm và có các anh chị em gồm: Bà Anh, ông Minh, bà Nguyệt, bà Hồng, bà Phượng (chết năm 2022).
Bà V trình bày từ trước đến nay bà V là người chăm sóc cho ông Svề
vật chất và khám chữa bệnh. Bà V cho rằng bà có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng ông Sơn, thời gian bà chăm sóc và nuôi dưỡng ông Sđến nay đã hơn 30 năm. Do đó, đề nghị Tòa án cử bà làm giám hộ để bà tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng ông Sơn.
Bị đơn bà Lê Thị Ngọc A trình bày: không đồng ý cử bà V làm giám hộ
nhưng bản thân bà Anh xác định không biết cử người nào làm giám hộ cho ông Sơn. Như vậy, bà Anh không có căn cứ chứng minh bà V là người không có đủ điều kiện để làm người giám hộ cho ông Sơn.
Ông S là con bà P (bà Phượng chết năm 2022) là người kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng của bà P trình bày: không đồng ý cử bà V là người làm giám hộ cho ông Snhưng cũng không có căn cứ cho rằng bà V không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông S.
Mặt khác, các anh chị em còn lại là bà N, ông M và bà P khi còn sống
đều trình bày: xác nhận người chăm sóc sức khỏe và chăm lo cuộc sống cho ông Stừ khi cha mẹ của họ chết là bà Lê Thị Tuyết V. Tất cả đều đồng ý cử bà V làm người giám hộ cho ông S, vì ngoài bà V ra, không ai có thể chăm sóc được cho ông Svà cũng không ai chịu nhận nuôi ông Sơn.
Kết quả trả lời của Công an Phường M, Quận S, Thành phố H theo
Phiếu xác minh số 6914/PYCXM ngày 21/10/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố H như sau: Ông Lê Thái S, sinh năm 1967 thực tế cư trú tại 63 Đường số 5, Phường M, Quận S, Thành phố H cùng với chị tên Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1963, nuôi dưỡng. Như vậy, bà V có đủ điều kiện làm người
giám hộ theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 47,
Điều 48, Điều 49, Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ định bà V là người giám hộ của
ông Sơn.
.Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị Ngọc A, sinh năm 1955 thuộc
trường hợp người cao tuổi được miễn án phí.
Ông Ngô Tiến S phải chịu án phí là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 14 Điều 26, điểm c Khoản 1 Điều 37, điểm a Khoản 1
Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 267 và
Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 54, Khoản 1 Điều 147 Bộ luật
Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết V: Chỉ định Bà Lê
Thị Tuyết V, sinh năm 1963, địa chỉ: số 63, Đường số 5, Phường M, Quận S,
Thành phố H là người giám hộ của ông Lê Thái S(sinh năm 1967, địa chỉ 63
Đường số 5, Phường M, Quận S, Thành phố H, mất năng lực hành vi dân sự
theo Bản án số 204/2019/QĐDS- PT ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố H).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ngô Tiến S phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Bà Lê Thị Ngọc A được miễn án phí.
Bà Lê Thị Tuyết V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
cho Vân số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo
Biên lai thu tiền số AA/2019/0045533 ngày 15/01/2020 của Cục Thi hành án
dân sự Thành phố H.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng
mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - TAND Cấp cao tại TPHCM; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Cục thi hành án dân sự TPHCM; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: VT, HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thuận |