vanban.org

Bản án 1593/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1593/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13-11-2019
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

2. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 454/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/8/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5157/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Tuyết L, sinh năm 1965 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: 45/40A T, Phường 15, quận B, TP.Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963 (xin vắng mặt).

Quốc tịch: Việt Nam.

Địa chỉ: Hauptstr 132 54470, Bernkastel, Kues, Germany.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23/7/2019 và Bản tự khai ngày 28/8/2019 nguyên đơn bà Trần Tuyết L trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Q sống chung từ năm 1988, đăng ký kết hôn năm 1989 theo Giấy công nhận kết hôn số 15/89 do Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc cấp ngày 17/02/1989. Sau khi kết hôn, bà và ông Q sinh sống tại Tiệp Khắc (nay thuộc Cộng hòa Séc). Năm 1990, bà trở về Việt Nam, ông Q ở lại Tiệp Khắc, tuy nhiên, hiện nay ông Q đang sinh sống tại Đức. Sau khi bà về Việt Nam hai bên ít liên lạc với nhau, tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q. Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn Q có một con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/8/1988 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà xin vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án. Tại Bản tự khai ngày 16/9/2019 được Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức hợp pháp hóa lãnh sự ngày 16/9/2019, bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Trần Tuyết L vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn. Về con chung: Ông xác nhận có một con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/8/1988 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông xin vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: [1.1] Về thẩm quyền của Tòa án: Bà Trần Tuyết L là nguyên đơn hiện đang cư trú tại 45/40A T, Phường 15, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn ông Nguyễn Văn Q cư trú tại Đức. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trần Tuyết L và ông Nguyễn Văn Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Tuyết L, ông Nguyễn Văn Q. [2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Tuyết L và ông Nguyễn Văn Q tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy công nhận kết hôn số 15/89 do Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc cấp ngày 17/02/1989. Căn cứ Điều 21 Nghị định 04-CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính Phủ quy định về Bản điều lệ đăng ký hộ tịch nhận thấy việc kết hôn giữa bà L và ông Q được thực hiện đúng quy định pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. [2.1] Về yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Tuyết L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Sau khi chung sống với nhau, vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên không hiểu nhau dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc, không quan tâm nhau. Nay bà Trần Tuyết L xác nhận không còn tình cảm với ông Nguyễn Văn Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, về phía ông Nguyễn Văn Q cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Trần Tuyết L. Điều này cho thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Trần Tuyết L xin ly hôn ông Nguyễn Văn Q là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Trần Tuyết L và ông Nguyễn Văn Q có lời khai thống nhất có một con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/8/1988. Hiện nay con chung Tuấn A đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí:

Bà Trần Tuyết L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Trần Tuyết L và ông Nguyễn Văn Q.

2. Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/8/1988 đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

Bà Trần Tuyết L chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0024194 ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Tuyết L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ