vanban.org

Bản án 159

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/09/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ toàn bộ B n án hình sự sơ thẩm s 11/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng để điều tra, truy t lại theo thủ tục chung. B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Q,. Vi phạm quy định về quản lý rừng - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (điều 233 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Huỷ toàn bộ B n án hình sự sơ thẩm s 11/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.
  • Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật T tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 159/2023/HS-PT
Ngày: 25-9-2023

NHÂN DANH

TÒA ÁN NHÂN DÂN T

NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

Ông Huỳnh Châu Thạch

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 74/2023/TLPT-HS ngày 17/4/2023 đ i với bị cáo Nguyễn Văn Q cùng đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 11/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: guyễ ă Q; sinh ngày 11 tháng 10 năm 1960 tại Qu ng Bình; nơi ĐKHKTT và cư trú: 72 TKD, phường 8, thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Lê Thị Nh, sinh năm 1933; vợ: Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1960; con: Có 03 con, lớn sinh năm 1984 (đã chết), nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 10/7/1997 bị Công an thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển, buôn bán lâm s n trái phép; Ngày 21/3/2017 bị Công an huyện Đam Rông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, mức phạt 1.500.000 đồng; bị cáo đã chấp hành.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Tho – Văn phòng Luật sư Nhân Tín; Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Họ và tên: rầ ă

; sinh ngày 10 tháng 4 năm 1989 tại Qu ng Ngãi; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã P, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Viên chức; chức vụ: Phó Phòng Kỹ thuật - Qu n lý b o vệ rừng Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, huyện Đam Rông; con ông Trần C, sinh năm 1962 và bà Vi Thị Th, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/6/2022, đến ngày 17/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Họ và tên: guyễ ă

; sinh ngày 03 tháng 11 năm 1988 tại Qu ng Ngãi; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã P, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Viên chức; chức vụ: Nhân viên Trạm qu n lý b o vệ rừng Phi Liêng-Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, huyện Đam Rông; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1951. Và bà Ngô Thị Ng, sinh năm 1953; vợ: Tô Thị Thu H, sinh năm 1992; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông xử phạt 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (đã xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

4. Họ và tên: Bùi ă

; sinh ngày: 05 tháng 7 năm 1990 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn P, xã P, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Viên chức; chức vụ: Trạm trưởng Trạm qu n lý b o vệ rừng Phi Liêng-Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, huyện Đam Rông; con ông Bùi Văn H, sinh năm 1957 và bà Nghiêm Thị Th, sinh năm 1958; vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1998; con: Có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/02/2022 bị Công an huyện Đam Rông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, hình thức Phạt tiền, mức phạt 1.000.000 đồng; đã chấp hành. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Các bị cáo không kháng cáo.

- Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn Trung Tâm, xã Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Phạm Tiến M, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân ph Trưng Vương, thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Dương Văn V, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn Thanh Bình, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Ông Hà Duyên B, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn Tân Thịnh, xã Tân Thành, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Nguyễn Trường Giang, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn 1, xã Rô Men, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

* Người làm chứng

- Ông Đặng Đăng L, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đơn Glê, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Viên Văn Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Thanh Bình, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Trần Thanh Th, sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn Đơn Glê, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Tạ Ngh, sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn Trung Tâm, xã Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Trần Đình S, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Trung Tâm, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Đỗ Văn C, sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn Trung Tâm, xã Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Nguyễn Thanh Ph, Ban qu n lý rừng phòng hộ Sêrêp k. Có mặt.

- Ông Vũ Văn H, sinh năm 1977, Phòng Nông nghiệp huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông tại Công văn s 722/UBND- NN ngày 17/6/2021 về việc khẩn trương triển khai thực hiện các biện pháp đ m b o an toàn mùa mưa năm 2021; cu i tháng 6 đầu tháng 7 năm 2021, Hạt kiểm lâm huyện Đam Rông phân công ông Nguyễn Thanh Ph - Kiểm lâm viên và Phạm Tiến Mạnh- Kiểm lâm phụ trách địa bàn, ph i hợp với: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đam Rông (đại diện ông Vũ Văn H-Chuyên viên); Ủy ban nhân dân xã Phi Liêng (đại diện ông Đinh Văn D-Phó Chủ tịch); Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng (đại diện ông Trần Văn Th-Phó trưởng phòng kĩ thuật, ông Nguyễn Mạnh T-Nhân viên) và đại diện Điện lực Đam Rông, tiến hành việc rà soát cây rừng có nguy cơ ngã đổ tại các tiểu khu 234a, 214, 215, 216 - Lâm phần do Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng qu n lý, thuộc địa giới hành chính xã Phi Liêng, huyện Đam Rông. Ngoài ra, tại tiểu khu 234a và 214 còn có Dương Văn Vlà cán bộ tiểu khu tham gia rà soát các cây thông có nguy cơ ngã đổ. Cách thức thực hiện việc rà soát như sau: C Đoàn tiến hành rà soát từng cây trong từng tiểu khu, th ng nhất những cây gỗ Thông, gỗ Chò có nguy cơ ngã đổ là bao nhiêu cây, Nguyễn Mạnh T thực hiện việc bài cây, đánh s (Lấy tọa độ, vạc vỏ cây, xịt sơn lên thân cây, dùng bút xóa ghi số lên vị trí vỏ bị vạc), Nguyễn Thanh Ph là người ghi chép s liệu để phục vụ việc hoàn thiện Biên b n vào ngày 12/7/2021. Kết qu rà soát, đã xác định có 74 cây thông và cây chò có nguy cơ ngã đổ, cây chết khô cần ph i cưa hạ ngay để không bị ngã ra đường vào mùa mưa bão. Theo tính toán thì trữ lượng lâm s n của 74 cây cần cưa hạ là 97,120 m3, trong đó kh i lượng thương phẩm tận dụng được 14,245 m3.

Căn cứ trên kết qu rà soát, Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng giao cho bị cáo Trần Văn Th phó phòng phụ trách phòng kỹ thuật Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, tham mưu xây dựng Hồ sơ thiết kế khai thác tận thu, trình Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông phê duyệt tại Tờ trình s 32 ngày 19/8/2021. Ngày 07/9/2021 Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông có công văn s 1205, giao Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng ph i hợp với Hạt kiểm lâm Đam Rông, Ủy ban nhân dân xã Phi Liêng và các cơ quan có liên quan, tổ chức thực hiện việc cưa hạ và khai thác tận thu 74 cây gỗ thông, cây chò có nguy cơ ngã đổ, đồng thời Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo trong quá trình cưa hạ, khai thác gỗ tận thu, truyệt đ i không được lợi dụng để cưa hạ, khai thác gỗ trái phép.

Để thực hiện khai thác 74 cây có nguy cơ ngã đổ nêu trên, ngày 08/9/2021 Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, người đại diện là ông Nguyễn Trường Giang, phó Ban phụ trách Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng trực tiếp ký “Hợp đồng khai thác tận thu, tận dụng gỗ là cây rừng có nguy cơ ngã đổ trong mùa mưa bão” với Công ty TNHH Quý Thanh Lộc Phát, người đại diện là ông Nguyễn Văn Quý. Theo Hợp đồng s 01/HĐKT-BQL Công ty trách nhiệm hữu hạn Quý Thanh Lộc Phát, thực hiện việc khai thác gỗ từ ngày bàn giao hiện trường (09/9/2021) đến hết ngày 15/9/2021 (Được gia hạn 01 lần đến ngày 23/9/2021). Để giám sát việc khai thác và vận chuyển gỗ tận thu, tận dụng. Cùng ngày, Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng ban hành Quyết định s 39/QĐ về việc thành lập Tổ giám sát khai thác gỗ tận thu, tận dụng cây có nguy cơ ngã đổ trong mùa mưa bão, tổ giám sát gồm có: Trần Văn Th- Phó phòng phụ trách phòng kỹ thuật làm Tổ trưởng, Bùi Văn T - Trạm trưởng trạm qu n lý rừng Phi Liêng làm tổ phó, Nguyễn Mạnh T nhân viên phòng kỹ thuật, Dương Văn Vvà Nguyễn Văn Th nhân viên trạm qu n lý b o vệ rừng Phi Liêng làm thành viên. Bên cạnh đó Ban qu n lý rừng Phi Liêng có văn b n đề nghị Hạt kiểm Lâm huyện Đam Rông, Ủy ban nhân dân xã Phi Liêng cử cán bộ cùng tham gia ph i hợp giám sát việc khai thác gỗ tận thu, sau khi nhận văn b n đề nghị của Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, thì ông Trần Đình Sơn - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phi Liêng cử bị cáo Đinh Văn D, nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phó Ban Lâm nghiệp xã, tham gia ph i hợp. Hạt kiểm Lâm huyện Đam Rông cử bị cáo Phạm Tiến Mạnh - Kiểm lâm Viên phụ trách địa bàn, tham gia ph i hợp cùng đoàn giám sát việc khai thác gỗ tận thu. Tổ giám sát có nhiệm vụ ph i hợp với Hạt kiểm lâm Đam Rông, Ủy ban nhân dân xã Phi Liêng và các cơ quan liên quan “Tổ chức bàn giao hiện trường, giám sát, theo dõi chặt chẽ quá trình khai thác, vận chuyển gỗ tận thu, tận dụng của đơn vị thi công”.

Sáng ngày 09/9/2021, sau khi nhận được Quyết định s 39 và Thông báo s 03, tất c thành viên Đoàn giám sát 07 người, gồm: Trần Văn Th, Bùi Văn T, Nguyễn Mạnh T, Dương Văn Việt, Nguyễn Văn Th, Phạm Tiến Mạnh và Đinh Văn D tập trung tại tiểu khu 234a cùng với đơn vị thi công, đại diện Nguyễn Văn Q và nhân viên của Quý, để tiến hành bàn giao hiện trường, cưa hạ các cây tại tiểu khu 234a. Tại đây, theo hồ sơ thiết kế có 14 cây Thông ba lá, toàn bộ nằm trên đất nông nghiệp, bị khô mục, gãy đổ, không có kh i lượng tận dụng. Quá trình này, Đoàn giám sát và đơn vị thi công cưa cắt thêm 05 cây Thông ba lá (gồm 01 cây tươi và 04 cây khô) nằm ngoài hồ sơ thiết kế, Đoàn giám sát và bị cáo Nguyễn Văn Q cho rằng những cây này có nguy cơ ngã đổ, mặc dù chưa được rà soát, lập hồ sơ, nhưng các thành viên trong đoàn giám sát và bị cáo Nguyễn Văn Q là người đại diện đơn vị thi công th ng nhất với nhau là cưa hạ thêm 05 cây này, sau khi th ng nhất đơn vị thi công đã cưa hạ, lâm s n tận dụng được thì đưa về bãi tập kết của Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng. Sau đó các ngày tiếp theo đoàn giám sát và đơn vị thi công tiếp tục cưa hạ tại các tiểu khu 214, 215, 216 và 217.

Quá trình điều tra, đến nay cơ quan điều tra đã chứng minh được như sau:

Ngày 09/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu 234a (đây là tiểu khu do Dương Văn Vlà cán bộ tiểu khu qu n lý). Ngoài việc cưa hạ 14 cây trong hồ sơ thiết kế được phép khai thác, đoàn giám sát và ông Nguyễn Văn Q đã cưa hạ thêm 05 cây ngoài hồ sơ thiết kế, trong đó cắt được 03 lóng từ 01 cây tươi, s gỗ này đã vận chuyển về xưởng cưa của Nguyễn Văn Q vào lúc 17 giờ cùng ngày.

Ngày 10, 13, 14 và 20/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu 215 (đây là tiểu khu do Nguyễn Văn Th là cán bộ tiểu khu trực tiếp qu n lý). Theo hồ sơ thiết kế thì tiểu khu này có 46 cây Thông ba lá (08 cây trên đất nông nghiệp, 38 cây trên đất lâm nghiệp), kh i lượng lâm s n tận dụng 4,161 m3, trong đó có 09 g c cây tươi, lâm s n không còn tại hiện trường, 37 g c cây khô mục, lâm s n còn tại hiện trường. Nhưng đoàn giám sát và đơn vị thi công đã cưa hạ thêm 88 cây ngoài hồ sơ thiết kế chưa được phép khai thác, toàn bộ s cây này nằm trên đất rừng s n xuất, gồm: 77 cây Thông ba lá, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường là 42,345 m3; 11 cây Chò tươi, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường 2,567 m3.

Ngày 15/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu 216 và 217. Tại tiểu khu 216 có 03 cây trong hồ sơ thiết kế được phép khai thác, nhưng quá trình khai thác đoàn giám sát và đơn vị thi công đã cưa hạ thêm 02 cây ngoài hồ sơ thiết kế nằm trên đất nông nghiệp, lâm s n khô mục hết (không có kh i lượng tận dụng. Tại tiểu khu 217, mặc dù biết trong tiểu khu này không có cây gỗ nào được phép khai thác, nhưng Đoàn giám sát và ông Nguyễn Văn Q đã cắt hạ 15 cây Thông ba lá (Có 05 cây nằm trên nông nghiệp, 10 cây thuộc đất rừng phòng hộ), toàn bộ là cây tươi, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường là 0,108 m3.

Ngày 16, 17/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu 214 (Đây là tiểu khu do Dương Văn Vlà cán bộ tiểu khu qu n lý). Tại đây đoàn giám sát và đơn vị thi công đã cưa hạ tổng s 21 cây, trong đó có 09 cây Thông ba lá nằm trong hồ sơ thiết kế. 12 cây ngoài hồ sơ thiết kế, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường 6,076 m3 (gồm 11 g c Thông tươi và 01 g c Chò tươi), toàn bộ thuộc đất rừng s n xuất.

Kết qu khám nghiệm hiện trường ngày 28/9/2021 tại xưởng chế biến gỗ của Công ty TNHH Quý Thanh Lộc Phát, xác định: Tổng s có 176 lóng, kh i lượng 46,179 m3, trong đó: Gỗ Thông ba lá 171 lóng, kh i lượng 45,194 m3 ; Gỗ Chò 05 lóng, kh i lượng 0,985 m3. Gỗ xẻ (Ván tươi) 360 tấm, kh i lượng 5,44 m3 Thông ba lá, tương đương 8,704 m3 gỗ tròn. Bìa gỗ mới quy tròn kh i lượng 4,62 m3. Tổng cộng 59,503 m3. Được định giá thiệt hại về lâm s n là 57.414.676 đồng, trong đó: gỗ tròn là 39.229.718 đồng, gỗ xẻ ván là 18.184.958 đồng; không xác định được giá trị thiệt hại về môi trường. Đ i với kh i lượng gỗ bìa 4,62 m3 không có cơ sở định giá (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Đ i với kh i lượng gỗ 36,809 m3 đà, hộp, phách, ván được xác định đây là gỗ có nguồn g c Nguyễn Văn Q mua hợp pháp nên không đề cập.

Kết qu khám nghiệm hiện trường ngày 29/9/2021 tại bãi tập kết gỗ Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng, xác định: Tổng cộng có 65 lóng gỗ tròn, kh i lượng 21,695 m3, chủng loại Thông ba lá, trong đó: 57 lóng gỗ tươi, kh i lượng 18,630 m3; 08 lóng gỗ khô, kh i lượng 3,065 m3. Được định giá thiệt hại về lâm s n là 29.106.496 đồng; không xác định được giá trị thiệt hại về môi trường. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Kết qu khám nghiệm hiện trường ngày 30/9/2021 tại các tiểu khu 214, 215, 216, 217, 234a xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, xác định: Tổng cộng có 226 g c và lóng Thông ba lá, Chò, gồm 194 g c và 32 lóng, tổng kh i lượng 60,079 m3; cụ thể:

Tại tiểu khu 214 tổng s 21 cây, trong đó có 09 cây Thông ba lá nằm trong hồ sơ thiết kế, kh i lượng lâm s n còn lại tại hiện trường 8,983 m3 (gồm 07 g c tươi và 02 g c khô); 12 cây ngoài hồ sơ thiết kế, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường 6,076 m3 (gồm 11 g c Thông tươi và 01 g c Chò tươi), toàn bộ thuộc đất rừng s n xuất. Được định giá thiệt hại về lâm s n là 6.426.588 đồng; thiệt hại về môi trường là 19.279.763 đồng; tổng thiệt hại về lâm s n và môi trường là 25.706.351 đồng. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Tại tiểu khu 215 tổng s 134 cây, trong đó có 46 cây Thông ba lá nằm trong hồ sơ thiết kế (08 cây thuộc đất nông nghiệp, 38 cây thuộc đất lâm nghiệp), kh i lượng lâm s n tận dụng 4,161 m3, trong đó có 09 g c cây tươi, lâm s n không còn tại hiện trường, 37 g c cây khô mục, lâm s n còn lại hiện trường; 88 cây ngoài hồ sơ thiết kế là, toàn bộ nằm trên đất rừng s n xuất, gồm: 77 cây Thông ba lá, trong đó 52 cây tươi và 25 cây khô, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường là 42,345 m3 (41,029 m3 tươi và 1,316 m3 khô); 11 cây Chò tươi, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường 2,567 m3. Được định giá thiệt hại về lâm s n là 59.911.598 đồng; thiệt hại về môi trường là 173.452.917 đồng; tổng thiệt hại về lâm s n và môi trường là 233.364.515 đồng. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Tại tiểu khu 216 có 03 cây trong hồ sơ thiết kế và 02 cây ngoài hồ sơ thiết kế, thuộc đất nông nghiệp, lâm s n khô mục hết.

Tại tiểu khu 234a, tổng s 19 cây Thông ba lá, trong đó 14 cây nằm trong hồ sơ thiết kế, toàn bộ thuộc đất nông nghiệp, đều bị khô mục, gãy đổ, không có kh i lượng tận dụng; 05 cây Thông ba lá ngoài hồ sơ thiết kế (gồm 01 cây tươi và 04 cây khô), lâm s n không còn tại hiện trường.

Tại tiểu khu 217, có 15 cây Thông ba lá ngoài hồ sơ thiết kế (có 05 cây thuộc đất nông nghiệp, 10 cây thuộc đất rừng phòng hộ), toàn bộ là cây tươi, kh i lượng lâm s n còn lại tại hiện trường là 0,108 m3. Được định giá thiệt hại về lâm s n là 981.224 đồng; thiệt hại về môi trường 2.795.925 đồng; tổng thiệt hại về lâm s n và môi trường 3.777.149 đồng. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HDĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Như vậy, mặc dù biết rõ s cây được phép khai thác là 74 cây gỗ, nhưng các bị cáo Trần Văn Th, Đinh Văn D, Bùi Văn T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Văn Th, Phạm Tiến Mạnh, Dương Văn Vlà người có chức vụ, thực hiện nhiệm vụ qu n lý b o vệ rừng, nhưng đã cho phép đơn vị thi công cưa hạ tổng s 122 cây rừng ngoài hồ sơ thiết kế tại các tiểu khu 214, 215, 216, 217, 234a, trong đó: 110 cây Thông ba lá, nhóm IV và 12 cây Chò, nhóm V (gồm 90 cây tươi và 32 cây khô); có 12 cây thuộc đất nông nghiệp, 100 cây thuộc đất rừng s n xuất và 10 cây thuộc đất rừng phòng hộ; kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường là 51,096 m3, trong đó có 50,988 m3 thuộc đất rừng s n xuất (tiểu khu 215 là 44,912 m3, tiểu khu 214 là 6,076 m3) và 0,108 m3 thuộc đất rừng phòng hộ (tiểu khu 217). Nguyễn Văn Q đại diện công ty TNHH Quý Thanh Lộc Phát là người trực tiếp ký hợp đồng, biết rõ s cây gỗ được phép khai thác là 74 cây, nhưng đã thông đồng với các bị cáo khác khai thác 122 cây gỗ thông, gỗ chò ngoài hồ sơ thiết kế, vận chuyển về xưởng với mục đích lấy gỗ để bán lấy tiền.

Đ i với kh i lượng lâm s n do bị cáo Nguyễn Văn Q chỉ đạo Hà Duyên Biến chở về xưởng (13 chuyến), tổng kh i lượng 59,503 m3. Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ được cưa hạ, cắt lóng và đưa về từ các tiểu khu 214, 215, 216, 217, 234a, trong thời điểm từ ngày 09/9/2021 đến ngày 23/9/2021.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã lập biên b n thu giữ s gỗ tại xưởng của Nguyễn Văn Q là 55,254 m3; tại bãi tập kết của Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng 21,695 m3 và tại các hiện trường 60,079 m3. 01 đầu ghi hình màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua Digital Video Recorder, model: DH-XVR1A04, s S/N: 6E08947PAZ51D12; 01 máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK-9999 CHAIN SAW, màu cam trắng (Thu giữ của Nguyễn Văn Quý); 01 xe máy cày độ chế có 06 bánh xe, đầu xe màu đỏ, thùng xe màu xanh lá cây, có hàn các cọc sắt 02 bên thùng xe để che hàng và tời hàng, Viện kiểm sát ra quyết định chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông để phục vụ việc truy t , xét xử.

B n cáo trạng s : 01/CT-VKS ngày 22/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng truy t bị cáo Nguyễn Văn Q về tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại điểm b kho n 3 Điều 232 Bộ luật Hình Sự; truy t các bị cáo: Trần Văn Th, Đinh Văn D, Nguyễn Văn Th, Bùi Văn T, Nguyễn Mạnh T, Phạm Tiến Mạnh và Dương Văn Vvề tội “Vi phạm quy định về quản lý rừng”, quy định tại điểm c kho n 3 Điều 233 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại B n án hình sự sơ thẩm s 11/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông đã xử;

Tuyên b bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản”.

Tuyên b các bị cáo Trần Văn Th; Đinh Văn D (Đinh Tiến Dũng), Bùi Văn T, Nguyễn Văn Th, Phạm Tiến Mạnh, Nguyễn Mạnh T, Dương Văn Vphạm tội “Vi phạm quy định về quản lý rừng”.

Áp dụng điểm b kho n 3 Điều 232, các điểm b, s kho n 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng điểm c kho n 3 Điều 233, các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022.

Áp dụng điểm c kho n 3 Điều 233, các điểm b, s, v kho n 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn D (Đinh Tiến Dũng) 24 (Hai mươi b n) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022.

Áp dụng điểm c kho n 3 Điều 233, các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng điểm c kho n 3 Điều 233, các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Tiến Mạnh, Nguyễn Mạnh T, Dương Văn Vmỗi bị cáo 07 (b y) tháng 16 (mười sáu) ngày tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam. Ra quyết định tr tự do ngay tại phiên tòa đ i với các bị cáo Phạm Tiến Mạnh, Nguyễn Mạnh T, Dương Văn Việt, nếu các bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Ngoài ra, b n án còn gi i quyết trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/3/2023, bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 20/3/2023, bị cáo Trần Văn Th kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Ngày 17/3/2023, các bị cáo Nguyễn Văn Th, Bùi Văn T kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi như b n án sơ thẩm đã xét xử, nhưng chỉ thắc mắc về việc các bị cáo khi được giao qu n lý tiểu khu nào chỉ cho phép khai thác trái phép ở tiểu khu đó và thắc mắc cách tính kh i lượng lâm s n mà các bị cáo bị quy kết theo b n án sơ thẩm. Bị cáo Quý cho rằng b n thân bị cáo chỉ vận chuyển trái phép các cây gỗ ngoài hồ sơ thiết kế chứ không chỉ đạo cưa cây trái phép ngoài hồ sơ thiết kế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm gi i quyết vụ án; cấp sơ thẩm chưa làm rõ kh i lượng gỗ 72 cây đã cưa hạ trong hồ sơ thiết kế và 122 cây ngoài hồ sơ thiết kế, vì trong hồ sơ thiết kế là 74 cây, kh i lượng tận thu 97,120m3, kh i lượng thương phẩm 14,245m3; còn 122 cây ngoài hồ sơ thiết kế không thể hiện được bao nhiêu kh i lượng gỗ. Tổng kh i lượng gỗ cơ quan điều tra không tách được trong và ngoài hồ sơ thiết kế, cấp sơ thẩm lấy tổng kh i lượng trong và ngoài hồ sơ thiết kế là 141,277m3 cấn trừ đã trừ s lượng 21,695m3 tại bãi tập kết Ban qu n lý rừng và 8,893m3 tại hiện trường TK214, đồng thời truy t các bị cáo khai thác 110, 599m3 là không đúng.

Về hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Văn Q có ký hợp đồng với ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng để khai thác gỗ tận thu, tận dụng, s cây gỗ được phép khai thác là 74 cây. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng b n thân bị cáo không trực tiếp chỉ đạo việc cưa hạ cây, trực tiếp chỉ đạo anh Hà Duyên Biến vận chuyển gỗ 13 chuyến máy cày về xưởng của bị cáo Quý, theo biên b n khám nghiệm hiện trường tại Xưởng cưa bị cáo Quý là 59,503m3, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ s gỗ tại xưởng cưa là do vận chuyển từ các tiểu khu 214, 215, 216, 217 và 234A và một s gỗ là của bị cáo đã mua trước đó, việc tính toán s lượng gỗ không có giấy tờ hợp lệ tại xưởng cưa của bị cáo Quý cũng chưa chính xác. Bị cáo không trực tiếp chỉ đạo việc cưa hạ mà những người trong đoàn giám sát mới trực tiếp chỉ cho thợ cưa để cưa s cây trong và ngoài hồ sơ thiết kế. Như vậy hành vi của bị cáo bị xét xử theo kho n 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự là chưa có căn cứ vững chắc.

Đ i với các bị cáo Trần Văn Th, Bùi Văn T, Nguyễn Văn Th đã không thực hiện hết trách nhiệm của mình, có hành vi tự ý chỉ cho thợ cưa cưa thêm một s cây ngoài hồ sơ thiết kế mà không báo cáo. Quá trình điều tra không làm rõ hành vi cho phép khai thác s lượng bao nhiêu cây tương đương với bao nhiêu kh i lượng gỗ ngoài hồ sơ thiết kế và buộc các bị cáo ph i chịu trách nhiệm toàn bộ thiệt hại là bất lợi cho các bị cáo.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm c kho n 1 Điều 355; điểm b kho n 1 Điều 358 của Bộ luật T tụng hình sự; hủy b n án sơ thẩm để điều tra lại. Đ i với bị cáo Đinh Văn D đang chấp hành án, nên kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân huyện Đam Rông tạm đình chỉ thi hành án đ i với bị cáo Dũng.

Luật sư Huỳnh Tho bào chữa cho bị cáo Quý phát biểu: Bị cáo Quý không chỉ đạo các thợ cưa khai thác các cây ngoài hồ sơ thiết kế, mà các thợ cưa cưa cây theo chỉ đạo của Đoàn giám sát, cấp sơ thẩm truy t , xét xử bị cáo Quý phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” là chưa chính xác, b n thân bị cáo Quý chỉ thuê thuê Hà Duyên Biến chở cây; hiện trường tại Xưởng cưa bị cáo Quý là 59,503m3 nhưng trong đó bao gồm c kh i lượng gỗ bị cáo Quý đã mua trước đó nhưng không có giấy tờ, có c gỗ Dổi, Bạch Tùng và gỗ bìa nhưng cũng đem vào để truy t các bị cáo là chưa chính xác. Cấp sơ thẩm lấy gỗ tròn, trừ s lượng gỗ thương phẩm để truy t , xét xử các bị cáo là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hồ sơ thiết kế được phê duyệt, trừ 02 cây chưa chặt hạ để tính kh i lượng, thì kh i lượng gỗ các bị cáo phạm tội chỉ 34,00m3 và xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q ở kho n 2 Điều 252 Bộ luật Hình sự, áp dụng các tình tiết gi m nhẹ theo điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, vận dụng Điều 35 hoặc Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền hoặc cho bị cáo Quý hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Ậ Ị

:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Cấp sơ thẩm xác định: Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông tiến hành việc rà soát cây rừng có nguy cơ ngã đổ. Kết qu rà soát, đã xác định có 74 cây thông và cây chò có nguy cơ ngã đổ, cây chết khô cần ph i cưa hạ ngay để không bị ngã ra đường vào mùa mưa bão. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các bị cáo biết rõ s cây gỗ được phép khai thác là 74 cây, nhưng được sự đồng ý của thành viên tổ giám sát, bị cáo Nguyễn Văn Q đã trực tiếp chỉ đạo những thợ cưa gỗ mà bị cáo Quý thuê khai thác thêm 122 cây gỗ ngoài hồ sơ thiết kế, đồng thời chỉ đạo anh Hà Duyên Biến vận chuyển gỗ 13 chuyến máy cày về xưởng của bị cáo Quý, với mục đích là để sẻ và bán gỗ cho người khác lấy tiền, khi bị phát hiện tại Xưởng cưa bị cáo Quý là 55,254 m3, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ s gỗ tại xưởng cưa là do khai thác và vận chuyển từ các tiều khu 214, 215, 216, 217 và 234A.

Cấp sơ thẩm còn xác định các bị cáo Trần Văn Th, Bùi Văn T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Văn Th, Dương Văn Vlà thành viên tổ giám sát việc thực hiện giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ tận thu, tận dụng gồm có 74 cây tại các tiểu khu 214, 215, 216, 234A, nhưng trong quá trình giám sát, các bị cáo đã tự ý cho phép bị cáo Nguyễn Văn Q và các thợ cưa của bị cáo Nguyễn Văn Q khai thác thêm 122 cây gỗ nằm ngoài hồ sơ thiết kế. Cụ thể tại tiểu khu 234A s cây được phép khai thác là 15 cây, nhưng các bị cáo đã cho phép thợ cưa của bị cáo Quý khai thác thêm 05 cây gỗ, trong đó có 01 cây gỗ thông tươi; Tại tiểu khu 215 các bị cáo đã cho phép bị cáo Quý cưa hạ thêm 88 cây ngoài hồ sơ thiết kế chưa được phép khai thác, toàn bộ s cây này nằm trên đất rừng s n xuất, gồm: 77 cây Thông ba lá, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường là 42,345 m3; 11 cây Chò tươi, kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường 2,567 m3. Tại tiểu khu 216, các bị cáo cho phép bị cáo Quý khai thác thêm 02 cây ngoài hồ sơ thiết kế, tại thiểu khu 217 mặc dù tiểu khu này không được phép khai thác nhưng các bị cáo đã để cho bị cáo Quý khai thác 15 cây gỗ. Tổng kh i lượng gỗ các bị cáo để cho bị cáo Quý khai thác là 51,096 m3 và để bị cáo Quý vận chuyển tất c s gỗ trên là vi phạm.

Tuy nhiên, kết qu điều tra cho thấy, những người thợ cưa chỉ thừa nhận cưa tổng cộng 26 cây ngoài hồ sơ thiết kế, s lượng cây cưa hạ còn lại là 96 cây ngoài hồ sơ thiết kế chưa xác định đ i tượng cưa. Tại phiên tòa phúc thẩm các thợ cưa xác định: ông Đỗ Văn Công cưa 07 cây (không rõ trong hay ngoài hồ sơ thiết kế); ông Tạ Nghĩa cưa 5 đến 6 cây (không rõ trong hay ngoài hồ sơ thiết kế); ông Viên Văn Định cưa 07 cây (không rõ trong hay ngoài hồ sơ thiết kế); ông Trần Thanh Thép cưa bao nhiêu cây không nhớ, kể c trong hay ngoài hồ sơ thiết kế.

Hồ sơ thiết kế thể hiện được phép cưa hạ 74 cây, kh i lượng khai thác tận thu là 97,120m3, kh i lượng thương phẩm là 14,245m3. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Vũ Văn H (công tác tại Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đam rông) và ông Nguyễn Thanh Ph (công tác tại Hạt kiểm lâm huyện Đam Rông) thừa nhận, ông Huyên chỉ tham gia 01 buổi làm việc rà soát cây rừng có nguy cơ ngã đổ còn các ngày khác không tham gia nhưng đã ký vào biên b n làm việc ngày 12/7/2021 và căn cứ vào biên b n làm việc này, Ban qu n lý rừng phòng hộ Phi Liêng xây dựng hồ sơ thiết kế trình Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông phê duyệt. Như vậy, việc rà soát, đánh giá 74 cây có nguy cơ ngã đổ với kh i lượng lâm s n nêu trên là không phù hợp. Đồng thời, cấp sơ thẩm chưa làm rõ, 72 cây trong hồ sơ thiết kế mà các bị cáo đã khai thác thực tế có kh i lượng bao nhiêu mét kh i và trong 122 cây mà các bị cáo đã khai thác trái phép, ai cưa hạ, cưa trong thời gian nào và có bao nhiêu mét kh i chưa được làm rõ. Biên b n khám nghiệm hiện trường ngày 30/9/2021 và các biên b n khám nghiệm khác xác định: ông Định cưa 09 cây, ông Thép cưa 46 cây, ông Lý cưa 3 cây, ông Công cưa 02 cây ngoài hồ sơ thiết kế. Tổng kh i lượng gỗ cơ quan điều tra không tách được trong và ngoài hồ sơ thiết kế, trong tổng kh i lượng gỗ tại các biên b n khám ngiệm hiện trường còn có c những cây ngã đổ trước đó nhưng đã tận thu, đem về bãi tập kết ban qu n lý rừng và Xưởng cưa của bị cáo Quý; tổng kh i lượng gỗ trong xưởng bị cáo Quý có những kh i lượng gỗ bị cáo Quý đã mua trước đây nhưng không có giấy tờ hợp pháp. Cấp sơ thẩm lấy tổng kh i lượng gỗ thu giữ tại các hiện trường và xưởng cưa bị cáo Quý là 141,277m3 cấn trừ kh i lượng gỗ được phép khai thác theo hồ sơ thiết kế là 21,695m3 (tại bãi tập kết Ban qu n lý rừng) và 8,893m3 (tại hiện trường tiểu khu 214), từ đó truy t các bị cáo khai thác trái phép với kh i lượng gỗ là 110, 599m3 là chưa phù hợp.

Hành vi của các bị cáo cho phép khai thác rừng trái phép đã cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b kho n 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015; xét xử các bị cáo Trần Văn Th, Bùi Văn T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Văn Th, Dương Văn Việt, Đinh Văn D (Đinh Tiến Dũng), Phạm Tiến Mạnh về tội “Vi phạm quy định về quản lý rừng” theo quy định tại điểm c kho n 3 Điều 233 Bộ luật Hình sự năm 2015 là chưa có căn cứ vững chắc.

Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa, hủy toàn bộ b n án sơ thẩm để điều tra lại như đã phân tích trên. Ngoài ra còn làm rõ kh i lượng 72 cây trong hồ sơ thiết kế đã cưa hạ là bao nhiêu mét kh i; tổng s cây mà cấp sơ thẩm cho rằng các bị cáo cho phép khai thác trái phép 122 cây do đ i tượng nào cưa hạ và cưa hạ trong thời gian nào? và kh i lượng gỗ là bao nhiêu mét kh i, làm rõ kh i lượng gỗ cho khai thác trái phép tại từng tiểu khu để xác định trách nhiệm của từng bị cáo.

[3] Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân huyện Đam Rông hủy quyết định thi hành án đ i với Đinh Văn D.

[4] Về án phí: Do vụ án bị hủy, nên các bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ỊNH:

Căn cứ điểm c kho n 1 Điều 355; điểm b kho n 1 Điều 358 của Bộ luật T tụng hình sự.

1. Huỷ toàn bộ B n án hình sự sơ thẩm s 11/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng để điều tra, truy t lại theo thủ tục chung.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ