- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh T phạm tội cố ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:159/2026/HS-ST Ngày 22 tháng 6 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Minh Phú và ông Đường Ngọc Đại.
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Trần Hồng Khánh- Kiểm sát viên.
Ngày 22/6/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2026/HSST ngày 10/4/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2026/HSST- QĐ ngày 17/4/2026 đối với các bị cáo:
1. Phan Thanh T, sinh ngày 04/5/1990; căn cước công dân số 026090001326 cấp ngày 22/4/2025; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ C khu A phường N, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Trọng T1 và bà Nguyễn Thị V; vợ: Nguyễn Ngọc Á (đã ly hôn); con: chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Ngô Hồng G, sinh ngày 17/9/1993; căn cước công dân số 001093033068 cấp ngày 19/4/2001; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ E, phường L, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thành Đ và bà Ngô Thị T2; vợ: Lê Thanh H; có 01 con sinh năm 2026.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/7/2025 đến ngày 12/7/2025 được tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Thái H1, sinh năm 2001; căn cước công dân số 026201002367 cấp ngày 02/7/2019 địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoàng B, sinh năm 2007; căn cước công dân số 026207000644 cấp ngày 26/4/2022; địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
Ông Nguyễn Hồng H2, sinh năm 1969; căn cước công dân số 026069012763 cấp ngày 03/4/2024 ; địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mâu thuẫn nợ nần với anh Nguyễn Thái H1 (hiện đang sinh sống tại thôn N, xã B, tỉnh Phú Thọ) nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/7/2025, Phan Thanh T, đi đến nhà Ngô Hồng G rủ G cùng đi đến nhà anh H1 để đòi tiền thì G đồng ý. T lấy tại nhà G 02 đoạn tuýp bằng kim loại, gồm: 01 đoạn tuýp hình hộp dạng vuông, rỗng dài 01m, kích thước các cạnh (4x4)cm và 01 đoạn tuýp hình trụ tròn, rỗng dài 01m, một đầu có gắn cút nhựa cứng, mục đích để nếu quá trình đòi nợ bị đánh thì sẽ dùng để đánh lại. T còn lấy 01 vỏ can nhựa (loại can đựng nước giặt, dung tích 05 lít) mang đi để mua, đựng xăng. Trên đường đi, T dừng xe nhặt ở một bãi rác ven đường A vỏ chai bia thủy tinh, G mua xăng đổ vào can nhựa và mang theo. Khi G điều khiển mô tô biển kiểm soát 23D1- 097.36 chở T đi đến cánh đồng vắng cách nhà anh H1 khoảng 02 km thì T nói với G “Dừng xe đi để đổ xăng vào chai”. G xuống xe, đổ xăng từ can nhựa vào 04 vỏ chai bia, mỗi chai khoảng một phần, lấy giấy rác nút vào miệng 04 chai chứa xăng, để hở một phần giấy ở ngoài, mục đích để đốt rồi ném vào nhà anh H1 gây sức ép đòi nợ. Đổ xăng vào chai xong, G để lại toàn bộ 10 chai thủy tinh vào túi vải, treo can xăng vào vị trí cũ rồi T điều khiển xe chở G. Trên đường đi, T và G bàn bạc với nhau về việc chọn chỗ để ném chai chứa xăng là vị trí bãi đất trống cạnh bờ tường phía bên trong nhà anh H1, mục đích gây sự chú ý. Khi cách nhà anh H1 khoảng 50 mét, T dừng xe nói với G “Ra ném đi”. G cầm túi vải chứa các vỏ chai bia đựng xăng đi bộ đến cạnh phía bên ngoài tường nhà anh H1, dùng tay phải cầm liền lúc 02 chai, tay trái dùng bật lửa châm cháy giấy nút ở đầu chai và ném vào phía trong bãi đất trống ở vị trí sát tường phía bên trong nhà anh H1.
Thấy có người ném xăng vào nhà, em ruột H1 là Nguyễn Hoàng B cầm theo 01 chiếc thuổng bằng kim loại dài 1,2m chạy ra đuổi theo, anh H1 điều khiển mô tô biển kiểm soát 88G1- 465.61 đi từ trong nhà ra đường. Thấy vậy, G chạy về phía T đang chờ và ngồi lên xe, T điều khiển xe chở G ngồi sau cầm 02 đoạn tuýp kim loại bỏ chạy. Anh B ngồi lên xe mô tô do anh H1 điều khiển đuổi theo xe của T. Di chuyển được khoảng 05m, xe mô tô do T điều khiển bị xe mô tô do anh H1 điều khiển đâm vào đuôi xe khiến T bị mất lái, xe loạng choạng. Đi thêm khoảng 03m thì xe mô tô do anh H1 điều khiển ở vị trí gần song song, sát về phía bên trái xe do T điều khiển. Bách ngồi sau cầm thuổng vụt 01 phát về phía T thì G đã dùng tuýp kim loại để đỡ, B dùng thuổng vụt thêm 01 cái trúng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu T. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe chở G chạy ra đường T, đoạn không có đèn đường chiếu sáng, thuộc thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ, do đi nhanh trong điều kiện ánh sáng hạn chế nên khi rẽ về phía bên phải, mô tô do T điều khiển đã bị lao xuống rãnh ở bên kia đường khiến G ngã ra, làm rơi 02 tuýp kim loại xuống đường. Anh H1 chở B cầm theo chiếc thuổng đi đến và hô “Cướp, cướp”. Thấy vậy, G dùng tay phải cầm chiếc tuýp kim loại dạng hình hộp vuông chạy về phía xe của anh H1. Thấy G cầm tuýp dồn đuổi, anh H1 tăng ga bỏ chạy được khoảng 05 mét thì bị mất lái, đổ xe. Anh H1 và B bị ngã sang phía bên phải của xe, chiếc thuổng bị rơi xuống đường. Khi anh H1 đang đứng dậy, quay đầu nhìn về phía sau thì G chạy đến vị trí chếch chéo phía sau anh H1, tay phải cầm tuýp kim loại giơ lên vụt 01 cái theo chiều từ trên xuống về phía anh H1. Do đúng lúc anh H1 đang đứng dậy và quay đầu nhìn lại nên thanh tuýp kim loại do G vụt đã trúng vào phần đầu bên trái của anh H1. B lao vào đẩy G ra, T tiến đến phía sau lưng B, dùng hai tay ôm và giằng co với B. G giằng, giữ lại được đoạn tuýp hộp kim loại từ tay của B rồi cùng T bỏ chạy về phía xã B, tỉnh Phú Thọ và vứt bỏ đoạn tuýp hộp kim loại trên đường.
Sau khi sự việc xảy ra, anh H1 đến khoa khám bệnh Bệnh viện Q khám và điều trị.
Ngày 04 tháng 7 năm 2025, Ngô Hồng G đã đến Cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi đánh gây thương tích đối với anh Nguyễn Thái H1 như đã nêu trên.
Biên bản xác minh tại Bệnh viện Q ngày 02/7/2025, xác minh thương tích, tình trạng vào viện ban đầu đối với anh Nguyễn Thái H1: Nguyễn Thái H1 vào viện lúc 23 giờ 49 phút ngày 01/7/2025 trong tình trạng tỉnh, tiếp xúc chậm, gọi hỏi biết, nhiều vết thương rải rác toàn thân, vết thương vùng đỉnh chẩm kích thước (10x5)cm, đã được băng cầm máu, máu chảy thấm băng, vết thương thẳng gọn. Kết quả chụp CT kết luận: Hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng và tụ khí nội sọ vùng đỉnh trái, vỡ lún xương đỉnh trái.
Ngoài ra không có vết thương nào khác.
Biên bản làm việc xác minh tình trạng sức khỏe hồi 16 giờ 15 phút ngày 02/7/2025 tại Khoa phẫu thuật thần kinh A Bệnh viện V1, xác minh tình trạng sức khỏe của Nguyễn Thái H1, Khoa phẫu thuật thần kinh 1 Bệnh viện V1 cung cấp thông tin: Bệnh nhân vào việc lúc 13 giờ 00 phút ngày 02/7/2025 trong tình trạng bệnh nhân tỉnh, G14đ, huyết động ổn; Đồng tử 02 bên 2mm đều, PXAS (+); Vết thương đầu đã khâu; Hàm mặt vững; Xây xát nhiều vùng hàm mặt; Cổ mềm; Ngực vững; Bụng mềm; Chậu vững; Xây xát vùng chậu phải, bàn chân, bàn tay 02 bên; Vết thương đầu gối phải đã khâu; Tứ chi không biến dạng. CLVT: Tụ máu – khí ngoài màng cứng vùng đỉnh trái kích thước (33x6)mm. Không thấy tụ máu trong nhu mô não trên và chia lều. Đường giữa cân đối không có dấu hiệu đẻ đầy. Hệ thống não thất cân đối, không giãn. Dịch não tủy đồng nhất. Bệnh nhân đã được chẩn đoán và điều trị tại Khoa phẫu thuật thần kinh 1 - Bệnh viện V1.
- Việc thu giữ đồ vật, tài liệu vật chứng :
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner X, biển kiểm soát 88G1-465.61. Đăng ký xe tên: Nguyễn Hồng H2, SN: 1969 trú tại thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Phú Thọ (nay là thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ);
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, biển kiểm soát 23D1-097.36. Đăng ký xe đứng tên: Nguyễn Khánh L, sinh năm 1963 trú tại B, Hà Giang (nay là xã H, tỉnh Tuyên Quang) do Ngô Hồng G mượn của bạn là anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1998, trú tại: Số F ngõ C T, phường Đ, thành phố Hà Nội;
+ 01 chiếc thuổng bằng kim loại có tổng chiều dài 1,24 mét, phần lưỡi thuổng bằng kim loại dài 0,23 mét, phần rộng nhất của lưỡi thuổng là 0,1 mét;
+ 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu ROYAL màu đỏ - đen, đã cũ, đã qua sử dụng;
+ 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn Video được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 + 01 đĩa DVD bên trong có chứa 01 đoạn Video được niêm phong trong phong bì ký hiệu B2.
Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, truy tìm vật chứng là 01 đoạn tuýp bằng kim loại, hộp vuông rỗng ruột, có kích thước các cạnh khoảng (4x4)cm, tổng chiều dài khoảng 01m, và tiến hành cho bị can Ngô Hồng G chỉ dẫn vị trí mà G đã vứt bỏ đoạn tuýp nhưng chưa phát hiện và thu giữ được đoạn tuýp kim loại nêu trên.
Trưng cầu giám định thương tích Nguyễn Thái H1:
- Ngày 04/7/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Thái H1. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 06 ngày 04/7/2025 của Trung tâm P- Sở Y, kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 20219 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thái H1 tại thời điểm giám định là: 24% (Hai mươi bốn phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
- Ngày 08/08/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số A2053, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định bổ sung thương tích đối với Nguyễn Thái H1. Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống bổ sung số 64 ngày 03/3/2026 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 20219 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thái H1 tại thời điểm giám định là: 27% (Hai mươi bảy phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
Trưng cầu giám định thương tích Phan Thanh T:
Ngày 08/08/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích số A2052 đối với Phan Thanh T. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 56 ngày 13/08/2025 của Trung tâm P- Sở Y, kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 20219 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Thanh T tại thời điểm giám định là: 08% (Tám phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
Kết quả trưng cầu giám định vũ khí:
- Ngày 23/07/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định vũ khí số: A1573 đối với đoạn tuýp bằng kim loại mà Ngô Hồng G đã sử dụng để đánh gây thương tích cho Nguyễn Thái H1 và Quyết định trưng cầu giám định số: A1574 đối với 01 chiếc thuổng bằng kim loại có tổng chiều dài 1,24 mét, phần lưỡi thuổng bằng kim loại dài 0,23 mét, phần rộng nhất của lưỡi thuổng là 0,1 mét.
- Ngày 29/07/2025, Phòng K Công an tỉnh P có Thông báo không tiếp nhận trưng cầu giám định số: 68/TBKTN-PC09 đối với Quyết định trưng cầu giám định số A1573, do đối tượng giám định được cung cấp không có giá trị để kết luận giám định tư pháp.
- Ngày 08/08/2025, Phòng K Công an tỉnh P ra Bản kết luận giám định số: 1166 đối với Quyết định trưng cầu giám định số: A1574, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là công cụ sử dụng trong lao động, không phải là vũ khí theo Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ công cụ hỗ trợ.
Kết quả định giá tài sản:
Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 15/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: Các linh kiện, phụ tùng phải thay thế, sửa chữa và công thay thế, sửa chữa của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner X, biển kiểm soát 88G1-465.61 tại thời điểm ngày 01/7/2025 là 567.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 04/KL- HĐĐGTS, kết luận: Các linh kiện, phụ tùng phải thay thế, sửa chữa và công thay thế, sửa chữa của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, biển kiểm soát 23D1-097.36 tại thời điểm ngày 01/7/2025 là 577.000 đồng.
Kết quả trưng cầu giám định Kỹ thuật số điện tử:
Ngày 23/7/2025, Cơ quan điều tra ra các Quyết định trưng cầu giám định Kỹ thuật số điện tử đối với 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn Video được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 và 01 đĩa DVD bên trong có chứa 01 đoạn Video được niêm phong trong phong bì ký hiệu B2.
Ngày 31/08/2025, Phòng K Công an tỉnh P ra Kết luận giám định số: 1604 và 1605, kết luận:
- Đối với mẫu vật gửi giám định ký hiệu B1: trích xuất được 20 (hai mươi) ảnh diễn biến người và phương tiện xuất hiện trên tệp Video gửi giám định, toàn bộ ảnh được in thành văn bản. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Bản ảnh giám định có chữ ký của giám định viên, chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Đối với mẫu vật gửi giám định ký hiệu B2: trích xuất được 04 (bốn) ảnh diễn biến người xuất hiện trên tệp video gửi giám định, toàn bộ ảnh được in thành văn bản. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Bản ảnh giám định có chữ ký của giám định viên, chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 20/CT- VKSKV8 ngày 09/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ truy tố bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Phan Thanh T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm.
Xử phạt bị cáo Ngô Hồng G từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm.
Xác nhận Phan Thanh T và Ngô Hồng G đã bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Thái H1 số tiền 45.000.000 đồng (trong đó bị cáo T 5.000.000 đồng; bị cáo G 40.000.000 đồng).
Tịch thu tiêu hủy 1 chiếc thuổng bằng kim loại; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ROYAL.
Bị cáo, bị hại không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ việc anh Nguyễn Thái H1 (là em họ của Phan Thanh T) nợ tiền của T và T đòi tiền nhiều lần nhưng anh H1 không trả nợ cho T. Khoảng 22 giờ ngày 01/7/2025, tại thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ, Phan Thanh T và Ngô Hồng G đi xe máy đến nhà anh H1 với mục đích để đòi nợ và đã sử dụng 01 đoạn tuýp sắt bằng kim loại hộp vuông rỗng có kích thước các cạnh khoảng 04 x 04cm, tổng chiều dài khoảng 01m (là hung khí nguy hiểm) đánh anh Nguyễn Thái H1 làm tổn hại 27% sức khỏe.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G dùng tuýp sắt (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho anh Nguyễn Thái H1 mất 27% sức khỏe đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 đến 30%...... thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người…:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%”nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này…”
Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G phạm tội theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt đến 06 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp phạm tội nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không bị áp dụng.
Về đồng phạm: Phan Thanh T là người khởi xướng, rủ Ngô Hồng G đi đòi tiền anh Nguyễn Thái H1. T chuẩn bị 02 đoạn tuýp bằng kim loại đưa cho G với mục đích nếu bị đánh thì sẽ sử dụng 02 đoạn tuýp này để đánh lại. G đã sử dụng đoạn tuýp sắt này gây thương tích cho anh H1 nhưng vì không có sự phân công, bàn bạc nên đây là đồng phạm giản đơn và các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà các bị cáo đã gây ra theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, vai trò và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung
Đối với hành vi của Nguyễn Thái H1 và Nguyễn Hoàng B sử dụng xe mô tô đuổi đánh Phan Thanh T và Ngô Hồng G làm xe mô tô của T và G bị mất lái và ngã ra đường, hậu quả T bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an xã B để xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Khi bị H1 và B dồn đuổi, T và G đã điều khiển xe bỏ chạy, cả hai bên đều không lượn lách, hô hào, không nẹt bô, rú ga mà chỉ dồn đuổi diễn ra trên quãng đường ngắn, xung quanh hai bên đường có ít hộ dân đang sinh sống, không có người dân qua lại, không gây ùn tắc giao thông. Sự việc diễn ra trong một thời gian ngắn, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi ném xăng của Ngô Hồng G: G đã đốt, ném chai đựng xăng vào bãi đất trống cạnh gia đình anh H1, mục đích chỉ nhằm gây sự chú ý, không nhằm mục đích gây thiệt hại về người và tài sản, thực tế không gây thiệt hại gì nên không cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự, hay “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Khi cho G mượn xe mô tô, anh Nguyễn Hoàng D không biết việc G và T sử dụng chiếc xe làm phương tiện để đi gây thương tích cho người khác nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thái H1 bị Phan Thanh T và Ngô Hồng G gây thương tích mất 27% sức khỏe và phải điều trị tại Bệnh viện Q, sau đó chuyển bệnh viện V1 từ ngày 01/7/2025 đến ngày 02/7/2025. Phan Thanh T và Ngô Hồng G đã tự nguyện bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho anh H1 số tiền là 45.000.000 đồng. Anh H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 88G1-465.61 do Nguyễn Thái H1 điều khiển chở Nguyễn Hoàng B là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hồng H2 (bố đẻ Nguyễn Thái H1). Ngày 10/3/2026, Cơ quan điều tra đã trả cho ông H2 nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển kiểm soát 23D1-097.36 do Ngô Hồng G điều khiển chở Phan Thanh T là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hoàng D cho G mượn. Ngày 10/3/2026, Cơ quan điều tra đã trả cho anh D nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 chiếc thuổng bằng kim loại có tổng chiều dài 1,24m là hung khí sử dụng trực tiếp để gây thương tích, cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu ROYAL màu đỏ - đen, đã cũ, đã qua sử dụng, là tài sản của bị can G. Do chiếc mũ đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên G không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm ) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Ngô Hồng G 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Phú Thọ; bị cáo Ngô Hồng G cho Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ROYAL; 01 chiếc thuổng bằng kim loại (Tài sản có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2026).
3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Thanh T và Ngô Hồng G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng .
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 8- Phú Thọ; - Cơ quan cảnh sát điều tra CA tỉnh Phú Thọ; - THA dân sự tỉnh Phú Thọ; - Những người tham gia tố tụng; - UBND phường Nông Trang, tỉnh Phú Thọ; - UBND phường Lĩnh Nam, TP Hà Nội. - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Nữ Hương Huyền |