vanban.org

Bản án 159/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Quàng Thị B đối với anh Lường Văn H.

Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn anh Lường Văn H. Về con chung: Giao cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho chị Quàng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Quàng thị Bang và anh Lường Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Quàng Thị B đối với anh Lường Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 26-8-2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Trọng, bà Định Thị Bích Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Viết Quý- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Vử Bả Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2026/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị B, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Bản BM, xã B, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lường Văn H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Bản BM, xã B, tỉnh Sơn La.

Anh Hoa hiện đang chấp hành án tại trại giam Xuân Nguyên, Cục C10, Bộ Công an. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biê bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Quàng Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Chị Quàng Thị B và anh Lường Văn H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 02/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã BT (trước là xã PL), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hoa nghiện ma túy, chị Bang và gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Hoa vẫn không nghe dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, không ai quan tâm đến ai. Anh Hoa hiện đang chấp hành án tại trại giam Xuân Nguyên, Cục C10, Bộ Công an. Chị Quàng Thị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lường Văn H.

Về con chung: Chị Quàng Thị B và anh Lường Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022.

Cháu Lường Việt C và cháu Lường Thị Ngọc Á đang ở với chị Bang. Chị Bang đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Lường Việt C và cháu Lường Thị Ngọc Á cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị B không yêu cầu anh Lường Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị B cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Lường Văn H trình bày (Có xác nhận của trại giam Xuân Nguyên, Cục C10, Bộ Công an):

Về hôn nhân: Anh Lường Văn H và chị Quàng Thị B kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn tháng 02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã BT(trước là xã Phổng Lái), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến khi anh Hoa đi chấp hành án, anh nhất trí ly hôn với chị Quàng Thị B.

Về con chung: Anh Lường Văn H và chị Quàng Thị B có 02 (hai) con chung là cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022.

Anh Lường Văn H đề nghị giao cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho ông bà nội trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn H không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Lường Văn H cam đoan không có nợ chung.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Tại biên bản xác minh ngày 04/8/2026: Tại Bản BM, xã B, tỉnh Sơn La. Anh Lường Văn H và chị Quàng Thị B có hộ khẩu thường trú tại Bản BM, xã B, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là không nắm rõ, hiện tại anh Hoa đang đi chấp hành án phạt tù. Anh Lường Văn H và chị Quàng Thị B có có 02 (hai) con chung là cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 đang ở với chị Bang. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Chị Quàng Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Bang giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Lường Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Hoa giữ nguyên yêu cầu ý kiến trong bản tự khai.

Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Lường Việt C có nguyện vọng là ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn anh Lường Văn H.

Về con chung: Giao cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho chị Quàng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lường Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Bang không yêu cầu anh Hoa phải cấp dưỡng nuôi con).

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị B, anh Lường Văn H cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả Hoa tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Quàng Thị B yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lường Văn H có địa chỉ tại Bản BM, xã B, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, bị đơn đang chấp hành án tại trại giam Xuân Nguyên, Cục C10, Bộ Công an, không thể tham gia hòa giải được, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị B, bị đơn anh Lường Văn H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị B và anh Lường Văn H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 02/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã BT(trước là xã Phổng Lái), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận được một thời gian có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Lường Văn H nghiện ma túy dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Quàng Thị B và anh Lường Văn H đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Bang cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lường Văn H, anh Lường Văn H nhất trí ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bang và anh Hoa lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn anh Lường Văn H. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Quàng Thị B và anh Lường Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022.

Chị Quàng Thị B đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Lường Văn H đề nghị giao cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho ông bà nội trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Lường Việt C có nguyện vọng được ở với mẹ.

Chị Quàng Thị B có nơi cư trú rõ ràng, trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, có thu nhập ổn định. Chị Quàng Thị B là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lường Việt C và cháu Lường Thị Ngọc Á từ ngày vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Anh Lường Văn H đang chấp hành án tại trại giam Xuân Nguyên, Cục C10, Bộ Công an.

Trên cơ sở xem xét ý kiến của cháu Lường Việt C có nguyện vọng của muốn ở với chị Bang.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho chị Quàng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lường Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Bang không yêu cầu anh Hoa phải cấp dưỡng nuôi con).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị B, anh Lường Văn H cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Chị Quàng Thị B có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Quàng Thị B là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Quàng Thị B đối với anh Lường Văn H.

Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn anh Lường Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Lường Việt C, sinh ngày 29/5/2019 và cháu Lường Thị Ngọc Á, sinh ngày 05/02/2022 cho chị Quàng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Bang không yêu cầu anh Hoa phải cấp dưỡng nuôi con).

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị Quàng Thị B, anh Lường Văn H cam đoan không có nợ chung.

7. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị B.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị B, anh Lường Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ