- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H và Hồ Tiến T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Tiến T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 159 /2025/HNGĐ-ST Ngày 25/ 8/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Tường Nga
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cúc và và bà Nguyễn Thị Chấn
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Cao Đức Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 07 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992
CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/7/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
HKTT và nơi ở : Số 6 ngách 176/1 HHT, YV, GL, HN (nay là xã PĐ)
Bị đơn: Anh Hồ Tiến T, sinh năm 1972
CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/7/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý
hành chính về trật tự xã hội
HKTT và nơi ở : Số 6 ngách 176/1 HHT, YV, GL, HN (nay là xã PĐ)
(Chị H, anh T có đơn xin vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại Tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về tình cảm: Tôi và anh Hồ Tiến T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn YV, GL, Hà Nội (nay là UBND xã PĐ) ngày 16/9/2011. Sau khi kết hôn, chúng tôi sống hạnh phúc đến khoảng thời gian tháng 3 năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Chồng tôi theo đạo Thánh Đức Chúa trời từ khoảng năm 2019 và sau đó bắt đầu thay đổi không chăm lo cho vợ con, gia đình. Hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau đến nay, tháng 3 năm 2022 anh ấy có đánh tôi một lần khi hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng tôi bắt đầu ly thân từ tháng 3 năm 2022 cho tới nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết, tôi đề nghị được ly hôn với anh Hồ Tiến T.
- Về con chung: Chúng tôi có một con chung là cháu Hồ Diễm Q, sinh ngày 19/05/2015, hiện cháu đang sống cùng tôi. Sau khi ly hôn tôi đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Về việc đóng góp phí tổn nuôi con, tôi đồng ý đóng góp 2.000.000 đồng ( Hai triệu đồng)/tháng cấp dưỡng nuôi con cho anh T.
- Về tài sản chung và công nợ: Chúng tôi không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Bị đơn - Anh Hồ Tiến T trình bày:
- Về tình cảm: Tôi và chị H kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn YV nay là xã PĐ. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống chung hạnh phúc đến năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị H đã bỏ về nhà ngoại gần một năm, sau đó chị lại quay về ở cùng gia đình đầu tháng 3 năm 2025 thì tôi phát hiện chị có quan hệ ngoài luồng tôi cũng có trao đổi với chị H về để cùng nhau chung sống và nuôi dưỡng con nên người nhưng chị H không có ý kiến gì lại viết đơn xin ly hôn. Tôi xác định như vậy là tình cảm giữa tôi và chị H không còn và sống ly thân từ tháng 5 đến nay. Tôi cũng đồng ý ly hôn với chị H
- Về con chung: Tôi và chị H có một con chung là cháu Hồ Diễm Q sinh ngày 19/05/2015 hiện cháu đang ở với bố cùng ông bà nội. Nếu ly hôn tôi xin được nuôi cháu Q và yêu cầu chị H hỗ trợ nuôi con ăn học là 2 triệu đồng/ tháng (hai triệu đồng) đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và công nợ: Chúng tôi không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hồ Tiến T.
Về con chung: Giao cháu Hồ Diễm Q, sinh ngày 19/5/2015 cho anh T nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị H có trách nhiệm đóng góp 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo quy định tại Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháo người chưa thành niên, luật phá sản và hoà giải tại Toà án số 85/2025/QH15 về nơi cư trú của bị đơn, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội do đó Toà án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Tiến T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn YV, GL, HN ngày 16/9/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh chị quá trình chung sống với nhau anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do mỗi người một tính cách, quan điểm sống không hợp, chuyện nhỏ biến thành chuyện lớn, không tìm được tiếng nói chung. Anh chị đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống kéo dài. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Chị H và anh T đều xác định không hàn gắn được tình cảm và thuận tình ly hôn do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị là có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát.
Về con chung: Xác định anh chị có 01 con chung là Hồ Diễm Q, sinh ngày 19/5/2015. Anh T có nguyện vọng được nuôi cháu Hồ Diễm Q
Ghi nhận sự thoả thuận của anh chị về việc giao cháu Hồ Diễm Q cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con anh T là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng. Xét thấy thoả thuận của anh chị là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147; 228; 269; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84; 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Tiến T.
2. Về con chung:
Xác định anh chị có một con chung là cháu Hồ Diễm Q, sinh ngày 19/5/2015.
Giao cháu Hồ Diễm Q cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc đóng góp phí tổn nuôi con, chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm đóng góp 2.000.000 đồng/tháng cho anh T đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật
Chị Nguyễn Thị H có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí ngày 17/7/2025, theo biên lai số 0001023 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Nay chị H còn phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hà Nội; - VKSND khu vực 5 – Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - UBND thị trấn YV, khu vực 5 – Hà Nội, thành phố Hà Nội (nay là phường UBND xã PĐ, thành phố Hà Nội) (GCN kết hôn số 62, quyển số 01/2011) - Phòng THADS khu vực 5 – Hà Nội; - Lưu: Hồ sơ, Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Tường Nga |