vanban.org

Bản án 159/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Th phạm t i “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn Th 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2023. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn Th phạm t i “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2023/HS-ST
Ngày: 14-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Võ Văn Hiệp;

- Ông Nguyễn Ngọc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân thành ph Th Dầu Một, t nh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Diệp Ngọc Dinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2023/QĐXXST-HS 31 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn Th, sinh năm 2000; tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký h khẩu thường trú: Số 1, tổ 5, khu phố 7, phường T, thành phố T, t nh Bình Dương; nghề nghiệp: Phụ xe; trình đ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; dân t c: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N và bà Phạm Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2023 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Tằng Sây T, sinh năm 1989; địa ch : Ấp H, xã N, huyện Đ, t nh Đồng Nai; trú tại: Khu phố 1, phường P, thành phố T, t nh Bình Dương; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Văn N, sinh năm 1974; địa ch : Số 1, tổ 5, khu phố 7, phường T, thành phố T, t nh Bình Dương; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Trần Văn M, ông Lê Nguyễn Kỳ K; cùng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có điện thoại di đ ng để sử dụng nhưng không có tiền để mua nên Võ Văn Th nảy sinh ý định đi cướp giật điện thoại tại cửa hàng bán điện thoại di d ng để về sử dụng. Thực hiện ý định trên, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/3/2023, Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen – xám, biển số 61G1-065.69 chạy trên các tuyến đường thu c phường Phú Mỹ, thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương tìm cửa hàng điện thoại để chiếm đoạt điện thoại di đ ng. Khi đang lưu Th trên đường Huỳnh Văn Luỹ, đoạn qua khu phố 4, phường Phú Mỹ, thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương, Th nhìn thấy cửa hàng điện thoại di đ ng Gold Apple, địa ch tại số 483, đường Huỳnh Văn Luỹ do anh Tằng Sây T làm ch có mở cửa kinh doanh nhưng hiện đang vắng khách nên Th điều khiển xe mô tô chạy vào trong hẻm số 73, thu c khu phố 4, phường Phú Mỹ, thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương để cất xe trong hẻm (cách cửa hàng điện thoại Gold Apple khoảng 30 mét) rồi Th đi b đến cửa hàng. Khi vào cửa hàng, Th giả vờ hỏi anh T có bán điện thoại di đ ng hiệu Iphone 12 ProMax hay không thì anh T nói có và lấy 01 điện thoại di đ ng hiệu Iphone 12 ProMax màu trắng, dung lượng 128GB, số sê-ri: G6TFD4TZ0D40 trong t trưng bày ra đưa cho Th xem. Khi anh T vừa đưa điện thoại ra cho Th xem thì Th liền giật lấy điện thoại và nhanh chóng bỏ chạy khỏi cửa hàng; anh T thấy vậy liền đuổi theo khoảng 10 mét thì bắt giữ được Th và giao cho Công an phường Phú Mỹ lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm t i quả tang và thu giữ số vật chứng, gồm: 01 điện thoại di đ ng hiệu Iphone 12 ProMax, màu trắng, dung lượng 128GB, số sê-ri: G6TFD4TZ0D40; 01 xe mô tô biển số 61G1-06569 nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen – xám, biển số 61G1-065.69 và 01 con dao xếp có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm. Cùng ngày 02/3/2023, Công an phường Phú Mỹ đã chuyển hồ sơ vụ việc, đối tượng Th cùng số vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Th Dầu M t để giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 111/KL-HĐĐGTS ngày 13/4/2023 c a H i đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Th Dầu M t, kết luận: 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu trắng, dung lượng 128 GB, số sê-ri: G6TFD4TZ0D40, trị giá 11.000.000 đồng. Ngày 10/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th Dầu M t đã giao trả điện thoại trên cho anh T theo Quyết định xử lý vật chứng số 84/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 10/3/2023. Hiện anh T không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen - xám, có số khung: 4311BY165910 và số máy: JC43E1726759; quá trình điều tra xác định xe trên do ông Võ Văn N (là cha ru t c a bị cáo) đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Khi Th sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm t i, ông N không biết. Ngày 10/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Th Dầu M t đã giao trả xe trên cho ông N theo Quyết định xử lý vật chứng số 85/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 10/3/2023.

Đối với con dao xếp có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 20cm thu được trên người c a Th, quá trình điều tra xác định đây là hung khí Th chuẩn bị để chống trả khi có người đuổi bắt, nhưng khi bị bắt thì Th không lấy dao ra để chống trả. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Th Dầu M t ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Th Dầu M t để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Th Dầu M t quyết định tịch thu, tiêu huỷ.

Cáo trạng số 171/CT-VKSTDM ngày 23/8/2023 c a Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Văn Th về t i Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 B luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Th Dầu M t giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị H i đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về vật chứng: Tịch thu, tiêu h y con dao xếp có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 20cm.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm t i c a mình và không có ý kiến tranh luận, bị cáo không trình bày lời nói sau cùng, .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Th Dầu M t, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục tố tụng theo quy định c a B luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i c a mình. Lời khai c a bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai c a bị hại, n i dung bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Vì vậy, đ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/3/2023, tại cửa hàng điện thoại Gold Apple, địa ch tại số 483, đường Huỳnh Văn Luỹ, khu phố 4, phường Phú Mỹ, thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương, bị cáo Võ Văn Th đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di đ ng hiệu Iphone 12 ProMax màu trắng, trị giá 11.000.000 c a anh Tằng Sây T thì bị bắt quả tang. Nên hành vi mà bị cáo thực hiện đ yếu tố cấu thành t i “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 B luật Hình sự. Bị cáo có đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Th Dầu M t, t nh Bình Dương truy tố bị cáo với t i danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản c a công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản c a người khác là vi phạm pháp luật nhưng v n thực hiện hành vi phạm t i với l i cố ý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Vì vậy, cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức đ c a hành vi phạm t i mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã h i.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức đ nguy hiểm cho xã h i c a hành vi phạm t i, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên H i đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng c a vụ án và biện pháp tư pháp: Đối với con dao xếp có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 20cm, là công cụ Th chuẩn bị đi thực hiện hành vi phạm t i nên tịch thu, tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 47 B luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 B luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Th phạm t i “Cướp giật tài sản”.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn Th 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu h y: 01 con dao xếp có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 20cm.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 151.23 ngày 21/8/2023 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu một).

4. Về án phí: Bu c bị cáo Võ Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định c a pháp luật.

Cỡ chữ