vanban.org

Bản án 159/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Kim N: Xác định anh Tô Kim N; Sinh ngày 18/02/1984: CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Quê quán: Đông Anh, Hà Nội là cha ruột của cháu Tô Mộc L; Sinh ngày 04/11/2019; Giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do do Bệnh viện E Hà Nội cấp ngày 07/11/2019.

Anh Tô Kim N và chị Trần Thị S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "N-S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Kim N: Xác định anh Tô Kim N; Sinh ngày 18/02/1984: CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Quê quán: Đông Anh, Hà Nội là cha ruột của cháu Tô Mộc L; Sinh ngày 04/11/2019; Giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do do Bệnh viện E Hà Nội cấp ngày 07/11/2019.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2023/HNGĐ-ST.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023.
V/v: Tranh chấp xác định cha cho con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hồng Thái.

2. Bà Lưu Thị Thanh Nhâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về việc tranh chấp “Xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Tô Kim N, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn Kính Nỗ, xã U, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Chị Trần Thị S, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn Thượng Đồng Văn, xã T, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Anh N và chị S vắng mặt (anh, chị đều có đơn đề N xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là anh Tô Kim N trình bày:

Cuối năm 2018, anh quen biết và quan hệ tình cảm với chị Trần Thị S, khi đó chị S đang sống ly thân với chồng. Ngày 04/11/2019 chị S sinh con, dự định đặt tên là Tô Mộc L, theo giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do Bệnh viện E Hà Nội cấp. Ngày 13/12/2022 chị S ly hôn với chồng theo Bản án số: 155/2022/HNGĐ-ST của TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định nhưng không giải quyết về cháu L do chị S không khai báo. Đầu năm 2023 giữa anh và chị S xảy ra mâu thuẫn, anh đã yêu cầu chị S xác nhận anh là cha ruột của cháu L nhưng chị S không đồng ý nên anh và cháu L đã đi làm xét nghiệm AND. Kết quả xét nghiệm giữa anh và cháu Tô Mộc L có quan hệ huyết thống cha con. Vì vậy anh làm đơn khởi kiện, đề N Tòa án xác định anh là cha ruột của cháu Tô Mộc L, sinh ngày 04/11/2019, theo giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do Bệnh viện E Hà Nội cấp ngày 07/11/2019.

Tại Bản tự khai, bị đơn là chị Trần Thị S trình bày:

Cuối năm 2018 trong thời gian sống ly thân với chồng, chị có quan hệ tình cảm với anh Tô Kim N. Ngày 04/11/2019 chị sinh con, dự định đặt tên là Tô Mộc L. Tại Bản án số: 155/2022/HNGĐ-ST ngày 13/12/2022 của TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng chị nhưng không giải quyết về cháu L do chị không khai báo. Do mâu thuẫn, anh N đã làm xét nghiệm AND và đề N được nhận cháu L là con nhưng chị không đồng ý. Nay anh N khởi kiện ra Tòa án đề N xác định anh là cha của cháu Tô Mộc L, chị đề N giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Tô Kim N và chị Trần Thị S vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề N xét xử vắng mặt vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Các đương sự đều có ý kiến thống nhất như sau: Cuối năm 2018 giữa anh Tô Kim N và chị Trần Thị S có quan hệ tình cảm với nhau, khi đó chị S đang sống ly thân với chồng. Ngày 04/11/2019 chị S sinh con, dự định đặt tên là Tô Mộc L, theo giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do Bệnh viện E Hà Nội cấp ngày 07/11/2019. Tại Bản án số: 155/2022/HNGĐ-ST ngày 13/12/2022 của TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng chị S nhưng không giải quyết về cháu L do chị S không khai báo. Đầu năm 2023 do mâu thuẫn, anh N đã yêu cầu chị S xác nhận anh là cha ruột của cháu L nhưng chị S không đồng ý.

Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả xét nghiệm AND của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền Gentis (Địa chỉ tại Hà Nội: Tầng 2, toà nhà HCMCC, số 249A Thuỵ Khê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội) do anh N cung cấp cho Tòa án đã kết luận: Anh Tô Kim N; Sinh ngày 18/02/1984: CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Quê quán: Đông Anh, Hà Nội và cháu Tô Mộc L; Sinh ngày 04/11/2019; Giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do do Bệnh viện E Hà Nội cấp ngày 07/11/2019 có quan hệ huyết thống Cha - Con.

Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định anh N là cha của cháu L, do đó yêu cầu khởi kiện của anh N được HĐXX chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh N không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình; N quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Kim N: Xác định anh Tô Kim N; Sinh ngày 18/02/1984: CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Quê quán: Đông Anh, Hà Nội là cha ruột của cháu Tô Mộc L; Sinh ngày 04/11/2019; Giấy chứng sinh số 99, quyển số 13 do do Bệnh viện E Hà Nội cấp ngày 07/11/2019.

2. Anh Tô Kim N và chị Trần Thị S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ