vanban.org

Bản án 159/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trần Ngọc Nh. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2004 và Trần Gia B, sinh ngày 16/8/2009 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dạy đến thành niên và tự lập được, anh Trần Ngọc Nh không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Th tranh chấp Ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Ngọc Nh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2022/HNGĐ-ST
Ngày 29- 4- 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức

2. Bà Nguyễn Thúy Phượng

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2022/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/3/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989

Địa chỉ: số 80, ấp Mỹ H, xã Mỹ Đ, huyện Châu Ph, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: anh Trần Ngọc Nh, sinh năm 1977.

Địa chỉ: tổ 11, ấp Bình Ph 2, xã Phú B, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Chị Th yêu cầu vắng mặt, anh Nh vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Vào năm 2003, chị và anh Trần Ngọc Nhg tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Phú Bình (Giấy chứng nhận kết hôn số 164/2013, quyển số 01/2013, ngày 16/10/2013). Nguyên nhân mâu thuẫn: chị Th xác định sự việc xảy ra sau khi chị sinh cháu Trần Gia B khoảng năm 2010, anh Nh thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng thường xuyên cự cãi và lần cự cãi sau cùng vào năm 2015, anh Nh đánh chị, chị dẫn theo 02 đứa con về nhà cha mẹ ruột tại Châu Phú sống, ly thân từ thời gian đó đến nay. Thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2004 và Trần Gia B, sinh ngày 16/8/2009 do chị đang nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, tại đơn xin ly hôn chị có yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi 02 con nhưng nay chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 con.

Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và 02 lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Tòa án tiến hành xác minh được chị Trần Thị Ngọc H (em ruột của anh Nh) cho biết: Qúa trình chị Th và anh Nh chung sống có 02 đứa con chung tên Trần Thị Huyền Tr và Trần Gia B, anh chị đã ly thân khoảng 07 năm nay, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Việc chị Th ly hôn với anh Nh, chị không có ý kiến.

Tòa án tiến hành xác minh được ông Nguyễn Văn H (cậu ruột của chị Thủy) cho biết: Vào năm 2015, Thủy dẫn theo 02 con chung là Trần Thị Huyền Tr và Trần Gia B về nhà của ông sống, nguyên nhân Th bị chồng Trần Ngọc Nh đánh, nghe Th kể lại vợ chồng thường xuyên cự cãi do Trần Ngọc Nh thường xuyên nhậu nhẹt, mỗi lần nhậu về kiếm chuyện mặc dù Th luôn làm tròn bổn phận người vợ, người dâu trong gia đình, đã ly thân suốt 07 năm nay, không hàn gắn, không tới lui thăm con.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị Th, anh Nh có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh Nh thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng cự cãi, anh Nh có đánh chị Th và đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, nên chị Th yêu cầu xin ly hôn với anh Nh, cho thấy hôn nhân của anh chị mâu thuẫn trầm trọng, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trần Ngọc Nh. Về con chung: từ khi ly thân đến nay 02 con chung tên Trần Thị Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2004 và Trần Gia B, sinh ngày 16/8/2009 do chị Th nuôi dưỡng, được chăm sóc, giáo dục, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của cháu, cần giao 02 cháu cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trần Ngọc Nh không phải cấp dưỡng nuôi con. Chia tài sản và nợ chung không có, không xem xét; về án phí, chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn: Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Ngọc Nh được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng nếu muốn có được hạnh phúc dài lâu và đạt được mục đích thì vợ chồng phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau, nhưng anh chị không làm được đều đó, trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã triệu tập anh Trần Ngọc Nh để tham gia hòa giải 02 lần và trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh đều không đến, thời gian ly thân của anh chị kéo dài, tại bản tự khai chị Th thể hiện cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Nh, nên có căn cứ xác định anh chị không còn quan tâm đối với mối quan hệ hôn nhân này, nếu tiếp tục duy trì thì sẽ không đảm bảo hạnh phúc, nên cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trần Ngọc Nh là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:

Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2004 và Trần Gia B, sinh ngày 16/8/2009 do chị Th đang nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Chị Th yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Cháu Tr và cháu B hiện đang sống chung chị Th, được chị và gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị Th. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao 02 cháu cho chị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Ngọc Nh không phải cấp dưỡng cho con. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Th xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận chị Th xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Trần Ngọc Nh không phải chịu án phí hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th.

1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trần Ngọc Nh.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2004 và Trần Gia B, sinh ngày 16/8/2009 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dạy đến thành niên và tự lập được, anh Trần Ngọc Nh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Ngọc Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Th cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu anh Trần Ngọc Nh lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Th có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Trần Ngọc Nh.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Ghi nhận chị Th xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thủy phải chịu 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0004343 ngày 22/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Trần Ngọc Nh không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ