vanban.org

Bản án 159/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 10/05/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố

Lào C, tỉnh Lào C; Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào C như sau: năm 2015, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại; khiếu kiện hành…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 349 Luật Tố tụng hành chính
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 159/2022/HC-PT
Ngày 10/5/2022
V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong
lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính và bồi
thường thiệt hại; khiếu kiện hành vi hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Anh Tài;

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Tự Học;

Ông Nguyễn Vũ Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Đức Minh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội,

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 435/2020/TLPT-HC ngày 21 tháng 8 năm 2020 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại; khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3846/2022/QĐ-PT ngày 26 tháng

4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 06,

phường Cốc L, thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai; có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Đ;

địa chỉ: số nhà 051, phố Lý Đạo Th, phường Kim T3, thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Bùi

Huy T1 và bà Bùi Thu Gi - Luật sư Công ty luật TNHH Công Lý BHT, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; đều có mặt.

2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Lào C

và Ủy ban nhân dân thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai; địa chỉ: số 591, đường Hoàng L, thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đăng Kh - Chức vụ: Chủ

tịch; vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Đức H - Chức vụ: Phó Chủ

tịch; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Lâm Văn

Q và ông Đỗ Khắc H1 - Luật sư Công ty luật Hợp danh Dân Ch, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; đều có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Vũ Thị Mỹ A; địa chỉ: Tổ 06 cũ (nay là tổ 19, phường Cốc L, thành

phố Lào C, tỉnh Lào Cai; có đơn xin vắng mặt.

3.2. Đài khí tượng thủy văn khu vực Việt B; địa chỉ: đường Nguyễn Tất Th,

phố Tân X, Phường Tân D, thành phố Việt Tr, tỉnh Phú Thọ.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Đức T4 - Chức vụ: Giám đốc;

vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T5 - Chức vụ:

Chánh văn phòng; vắng mặt.

3.3. Ủy ban nhân dân phường Cốc L, thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai;

Địa chỉ: phường Cốc L, thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng Đ1 - Chức vụ: Chủ

tịch UBND phường Cốc L; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của các bên đương

sự, nội dung vụ án như sau:

* Người khởi kiện trình bày:

Ngày 26/07/1993, ông Nguyễn Hồng T nhận chuyển nhượng lại một ngôi

nhà giáp bờ rào phía sau Trạm Thủy văn, tại tổ 06, phường Cốc L, thành phố Lào C, người chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Ái D với diện tích 160m2, giá 2,5 triệu đồng, hai bên đã làm giấy viết tay. Nguồn gốc đất là do ông T2 (nguyên là Trưởng trạm thủy văn Lào C trước năm 1979) là chồng bà Khải khai phá từ năm 1970, sau khi ông T2 mất, năm 1991 bà cùng các con từ Yên Bái lên dựng nhà trên đất cũ tại phía sau Trạm Thủy văn Lào C, do chuyển về xuôi sống với con, không có nhu cầu ở, bà Khải đã ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Thị Ái D làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hồng T.

- Đến ngày 13/5/2019, UBND phường Cốc L đã lập Biên bản vi phạm hành

chính về trật tự xây dựng số 15/BB-VPHC về hành vi xây dựng công trình xây dựng không phù hợp với quy hoạch quy định tại điểm a khoản 7 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ. Xác định thời điểm vi phạm: Từ năm 2013.

- Ngày 22/5/2019, Chủ tịch UBND thành phố Lào C ban hành Quyết định

áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 1979/QĐ-KPHQ đối với ông Nguyễn Hồng T;

- Ngày 03/6/2019, Chủ tịch UBND thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai ban hành

Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 2233/QĐ-CCXP đối với ông Nguyễn Hồng T và thực hiện cưỡng chế toàn bộ công trình xây dựng.

Do cho rằng các quyết định hành chính nêu trên trái pháp luật nên ông

Nguyễn Hồng T yêu cầu Tòa án tuyên hủy các quyết định nêu trên và yêu cầu buộc UBND thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai phải thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương mà cụ thể là phải thực hiện hành vi thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai 2013 và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật Đất đai 2013 và buộc UBND thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai phải bồi thường số tiền thiệt hại về tài sản là 564.920.000 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).

* Người bị kiện trình bày:

Về căn cứ pháp lý: Quyết định số 718/2004/QĐ-UBND ngày 02/12/2004

của UBND tỉnh Lào C về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch mặt bằng hai bên tuyến kè sông Hồng, đoạn từ cầu Cốc L - cầu Phố Mới, thị xã Lào C, tỉnh Lào Cai (trong hồ sơ quy hoạch, tại thời điểm quy hoạch vị trí đất có công trình xây dựng của Nguyễn Hồng T là đất bãi bồi ven sông).

Quyết định số 1929/QĐ-UBND ngày 01/7/2009 của UBND tỉnh Lào C về

việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch đối với khu đất đường Kè Sông Hồng làm hành lang an toàn Trạm Thủy văn diện tích 325m2 (trước khi điều chỉnh quy hoạch sang đất hành lang Trạm Thủy văn là quy hoạch đất ở chia lô mới).

Căn cứ vào Hồ sơ đo đạc địa chính năm 1997 và năm 2005 (Sổ mục kê, hồ

sơ kỹ thuật và biên bản xác định mốc giới thửa đất năm 1997; Hồ sơ biên bản giao nhận diện tích, kết quả đo đạc biên bản xác định mốc giới, gianh giới đo đạc năm 2005). Đều thể hiện phía sau Trạm Thủy văn, không có thửa đất nào mang tên Nguyễn Hồng T. Ông T không cung cấp được các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất.

Căn cứ Văn bản số 08/TVLC ngày 29/1/2013 của Trạm Thủy văn Lào C;

Biên bản xác định hiện trạng sử dụng đất ngày 29/03/2019; Biên bản xác minh tình tiết vụ việc ngày 23/4/2019. Với các căn cứ và chứng cứ pháp lý như trên, UBND thành phố Lào C xác định: Công trình do Nguyễn Hồng T làm chủ đầu tư tại vị trí phía sau Trạm Thủy văn là công trình vi phạm về trật tự xây dựng, xây nhà vi phạm quy hoạch, do công trình vi phạm đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 6, Luật xử lý vi phạm hành chính, nên UBND thành phố Lào C không xử phạt vi phạm mà chỉ lập biên bản và Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hồng T.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đài khí tượng Thủy văn Việt B

trình bày:

Do chiến tranh biên giới phía bắc, Trạm Thủy văn Lào C phải di dời về

phường Xuân Tăng, thị xã Cam Đường cũ (nay là thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai). Tháng 11/1994 trụ sở Trạm Thủy văn Cốc L được xây dựng xong và chính thức đi vào hoat động. Trước khi đi vào hoạt động, trong hành lang khuân viên của trạm đã tồn tại công trình nhà ở trên đất của hai hộ gia đình ông Lưu Huy Sản và ông Nguyễn Hồng T. Vào thời điểm đó Pháp lệnh khai thác bảo vệ công trình thủy văn số 38 L/CTN ngày 10/12/1994 mới có hiệu lực pháp luật. Công trình xây dựng nhà ở của hộ ông Lưu Huy Sản và ông Nguyễn Hồng T nằm trong phạm vi đất thuộc hành lang an toàn kỹ thuật công trình Trạm Thủy văn Lào C. Theo quy định tại Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về luật khí tượng thủy văn, tại Điều 7, hành lang kỹ thuật công trình khí tượng thủy văn, tại mục 2 khoản e, khoản g, công trình đo lưu lượng nước sông là “khoảng cách 10m về mỗi phía của công trình cáp treo, cầu treo, cáp tuần hoàn”. Công trình đo mực nước sông hồ, biển “khoảng cách 10m về hai phía đối với tuyến bậc, cọc, thủy chí”.

Theo các căn cứ trên thì công trình xây dựng nhà ở của hộ ông Sản và hộ

ông T đều nằm trong hành lang kỹ thuật các công trình của Trạm Thủy văn Lào C. Cụ thể: Năm 2009, khi thành phố Lào Cai xây dựng bờ kè sông Hồng làm ảnh hưởng đến hành lang an toàn kỹ thuật của trạm Thủy văn Lào C.

Ngày 01/7/2009, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 1929/QĐ-

UBND về việc điều chỉnh quy hoạch đối với khu đất đường bờ kè sông Hồng, làm hành lang an toàn công trình thủy văn Lào C, theo đó chuyển đổi toàn bộ 325m2 từ đất dân cư sang làm công viên cây xanh. Trên sơ đồ điều chỉnh quy hoạch thì toàn bộ diện tích chuyển đổi 325m2 đất đã có 02 nhà dân, có nhà ở từ năm 1993 là hộ ông Nguyễn Hồng T và hộ ông Lưu Huy Sản. Việc Tòa án tỉnh Lào Cai giải quyết 02 vụ án hành chính nêu trong Công văn số 202/2019/CVTA đều ảnh hưởng đến quyền lợi pháp lý của cơ quan. Vì hành lang kỹ thuật công trình Trạm thủy văn Lào C là một trong các nhiệm vụ do Đài trực tiếp quản lý và bảo vệ theo các điều của Luật khí tượng thủy văn và Nghị định số 38/NĐ-CP năm 2016 quy định chi tiết một số Điều của Luật khí tượng thủy văn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Mỹ An trình bày: Nhất

trí với quan điểm của ông Nguyễn Hồng T.

Ý kiến của người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường

Cốc L: Nhất trí với ý kiến của UBND thành phố Lào C.

Tại biên bản xem xét, thẩm định: Tổng diện tích đất là 159,7m², thửa đất có

tứ cận như sau: Phía Bắc có chiều dài 19,38m giáp công trình xây dựng của ông Lưu Huy Sản; phía Đông có chiều dài 8,40m giáp hành lang đường An Dương Vương; phía Nam có chiều dài 19,10m giáp tuyến đường quan trắc thủy văn; phía Tây có chiều dài 8,14m giáp hàng rào của Trạm Thủy văn Lào C. Toàn bộ diện tích 159,7m2 không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh Lào Cai cấp ngày 22/10/1998 cho Trạm Thủy văn Lào C mà toàn bộ diện tích này nằm trong ranh giới hành lang bảo vệ của Trạm Khí tượng thủy văn Lào C, bên cạnh đó Tổ đo đạc cũng lồng ghép lên ranh giới của Dự án bãi đỗ xe, cây xanh tổ 2 + 3 nay là tổ 3, tổ 6 cho thấy trong 159,7m2 có 139,8m2 nằm trong ranh giới dự án, phần diện tích còn lại là 19,9m2 nằm phía sát hàng rào của Trạm Thủy văn Lào C, nằm ngoài ranh giới dự án bãi đỗ xe, cây xanh tổ 2 + 3 nay là tổ 3, tổ 6.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông Nguyễn Hồng T đã rút

yêu cầu bồi thường với số tiền là 564.920.000 đồng.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 17/6/2020, Tòa án

nhân dân tỉnh Lào Cai đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; khoản 2 Điều 173, Điều 358 Luật Tố tụng

hành chính năm 2015; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Hồng

T: Hủy toàn bộ Quyết định số 1979/QĐ-KPHQ và Quyết định số 2233/QĐ-CCXP của UBND thành phố Lào C. Buộc UBND thành phố Lào C thực hiện việc thu hồi đất theo thẩm quyền và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đòi bồi thường 564.920.000 đồng (Năm

trăm sáu mươi tư triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền thiệt hại do quyết định hành chính gây ra.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về án phí và thông báo quyền kháng

cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/7/2020, người bị kiện là UBND thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai

kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hồng T; Giữ nguyên Quyết định số 1979/QĐ-KPHQ ngày 22/5/2019 và Quyết định số 2233/QĐ-CCXP ngày 03/6/2019 của UBND thành phố Lào C.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện là ông Nguyễn Hồng T giữ nguyên

yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Tất

cả các loại sổ sách, giấy tờ, tài liệu quản lý việc sử dụng đất như: sổ mục kê, hồ sơ kỹ thuật, biên bản xác định mốc giới, hồ sơ quy hoạch… đều là sản phẩm của các cơ quan chức năng giúp việc cho UBND thành phố Lào C thực hiện việc quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương. Việc quản lý sổ sách không thể hiện có thửa đất của gia đình ông T thể hiện các cơ quan chức năng đã thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý đất đai ở địa phương. Theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì việc gia đình ông T thiếu nội dung này không có nghĩa là hộ gia đình ông T không sử dụng đất ổn định. Theo Biên bản làm việc ngày 27/3/2013, Đài khí tượng thủy văn khu vực Việt B đã có Công văn số 172 ngày 02/4/2013 gửi Sở xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND thành phố Lào C, UBND phường Cốc L điều chỉnh quy hoạch theo Quyết định số 1929/QĐ-UBND ngày 01/7/2009 của UBND tỉnh Lào C. Gia đình ông Sản có nhiều tài liệu thể hiện đã tạm trú và sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993, phù hợp với quy định tại điểm e khoản 2 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và có căn cứ để xác định gia đình ông T đã cư trú ổn định trong căn nhà tạm xây dựng từ ngày 18/02/1993. Từ đó có căn cứ xác định hộ gia đình ông T thuộc trường hợp được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và được thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Về hành vi lập biên bản vi phạm hành chính của UBND phường Cốc L có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: tại thời điểm lập Biên bản vi phạm ngày 13/5/2019 không có hành vi vi phạm hành chính được lập biên bản. Người lập biên bản vi phạm chỉ căn cứ vào Văn bản đề nghị số 08/TVLC của Trạm Thủy văn gửi UBND phường Cốc L phản ánh sự kiện đã xảy ra trước đó 06 năm của hộ gia đình ông T và Văn bản số 61/TN&MT ngày 18/4/2019 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lào C là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định Biên bản vi phạm hành chính số 16/BB-VPHC ngày 13/5/2019 của UBND phường Cốc L không đúng với quy định của pháp luật và không đúng với thực tế của sự việc. Quyết định xử lý vi phạm hành chính của UBND thành phố Lào C cũng vi phạm thủ tục xử lý vi phạm hành chính do căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính không đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của UBND thành phố Lào C giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện trình bày: Tòa

án cấp sơ thẩm căn cứ vào giấy mua bán viết tay để xác định nguồn gốc đất là không có căn cứ vì Trạm Thủy văn có trước năm 1975 (có trước khi chuyển nhượng đất). Người khởi kiện không xuất trình được giấy tờ gì theo quy định của Luật đất đai. Nếu sử dụng trước ngày 15/10/1993 thì đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên, diện tích đất gia đình ông T sử dụng là bãi bồi ven sông và đã được quy hoạch hành lang đê điều; gia đình ông T khi xây dựng phải có giấy phép xây dựng. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm hủy các quyết định của UBND thành phố Lào C và buộc thực hiện việc thu hồi đất theo thẩm quyền và bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định của pháp luật là không có căn cứ.

Đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố Lào C trình bày: Đại diện

người bị kiện vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo như nội dung đơn kháng cáo mà người bị kiện đã trình bày. Đồng thời bổ sung thêm, nếu không làm kè đê sông Hồng thì hộ gia đình ông T cũng không đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ vì đất nằm trong khuôn viên Trạm thủy văn và hành lang bảo vệ đê điều và không đủ điều kiện về hạ tầng vì không có lối đi, phải đi qua khuôn viên Trạm thủy văn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm

tại phiên tòa:

Về tố tụng quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa, Thẩm phán

- Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đơn kháng cáo của người bị kiện trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về hướng giải quyết vụ án, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu,

chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung kháng cáo. Đề nghị áp dụng Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và được thẩm tra công khai tại phiên

tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn Đ đại diện theo ủy quyền của người khởi

kiện vắng mặt tại phiên tòa; người khởi kiện đề nghị T hành xét xử vắng mặt ông Đ; đại diện theo ủy quyền của Đài khí tượng thủy văn khu vực Việt B đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do; bà Vũ Thị Mỹ An và đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân phường Cốc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.

. Về đối tượng khởi kiện:

Quyết định số 1979/QĐ-KPHQ ngày 22/5/2019 và Quyết định số 2233/QĐ-

CCXP ngày 03/6/2019 của UBND thành phố Lào C là quyết định quản lý hành chính Nhà nước về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Theo quy định tại và khoản 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính thì các quyết định hành chính nêu trên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 11/6/2019, ông Nguyễn Hồng T nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính

là đảm bảo thời hiệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

. Về nội dung:

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, người bị kiện cho rằng công trình do ông

Nguyễn Hồng T làm chủ đầu tư tại vị trí phía sau Trạm Thủy văn được hình thành sau khi có Quyết định số 1929/QĐ-UBND ngày 01/7/2009 của UBND tỉnh Lào C nên là công trình vi phạm về trật tự xây dựng, xây nhà vi phạm quy hoạch. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông T có nhà ở trên diện tích đất bị cưỡng chế từ năm 1993, để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

. Tại Công văn số 144/ĐKVVB-VP ngày 22/3/2019 của Đài khí tượng

Thủy văn Việt B xác định: Trạm Thủy văn Lào C do Tổng cục khí tượng Thủy văn thành lập tháng 01/1993, đóng trên địa bàn phường Cốc L, thành phố Lào C, tỉnh Lào C là trạm thủy văn hạng 1, trạm giáp biên giới, đầu nguồn sông Hồng, thuộc mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia, dưới sự quản lý trực tiếp của Đài khí tượng Thủy văn Việt B. Do chiến tranh biên giới phía Bắc, Trạm Thủy văn Lào C phải di dời về phường Xuân Tăng, thị xã Cam Đường cũ (nay là thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai). Tháng 11/1994 trụ sở Trạm Thủy văn Cốc L được xây dựng xong và chính thức đi vào hoat động.

. Tại Quyết định số 50/QLQH ngày 21/6/1992 của Sở Xây dựng tỉnh

Lào Cai có nội dung nhất trí địa điểm làm nhà ở của Trạm Thủy văn, tại vị trí phường Cốc L, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp Trạm Khí tượng Thủy văn; phía Nam giáp đất quy hoạch; phía Đông giáp Sông Hồng; phía Tây giáp đường. Diện tích được cấp: 300m2 (có sơ đồ kèm theo);

Tại Quyết định số 19/QLQH ngày 24/6/1992 của Sở Xây dựng tỉnh Lào

Cai, có nội dung nhất trí địa điểm xây dựng Trạm Thủy văn, vị trí phường Cốc L, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường quy hoạch; phía Nam giáp đất nhà ở của Trạm; phía Đông giáp Sông Hồng; phía Tây giáp đường. Diện tích được cấp: 500m2 (có sơ đồ kèm theo);

Tại biên bản xem xét, thẩm định: Tổng diện tích đất là 159,7m², thửa đất có

tứ cận như sau: Phía Bắc có chiều dài 19,38m giáp công trình xây dựng của ông Lưu Huy S; phía Đông có chiều dài 8,40m giáp hành lang đường An Dương Vương; phía Nam có chiều dài 19,10m giáp tuyến đường quan trắc thủy văn; phía Tây có chiều dài 8,14m giáp hàng rào của Trạm Thủy văn Lào C. Toàn bộ diện tích 159,7m2 không nằm trong GCNQSDĐ do UBND tỉnh Lào Cai cấp ngày 22/10/1998 cho Trạm thủy văn Lào C mà toàn bộ diện tích này nằm trong ranh giới hành lang bảo vệ của Trạm Khí tượng thủy văn Lào C.

. Lời trình bày của người khởi kiện, cùng tài liệu trong hồ sơ thể hiện:

ngày 26/07/1993, ông Nguyễn Hồng T nhận chuyển nhượng lại một ngôi nhà “giáp” bờ rào phía sau Trạm Thủy văn, tại tổ 06, phường Cốc L - Lào C, người chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Ái D với diện tích 160m2, giá 2,5 triệu đồng, hai bên đã làm giấy viết tay.

Như vậy, khi tiến hành xây dựng Trạm Thủy văn Lào C thời gian 1992 tại

các Quyết định số 50/QLQH ngày 21/6/1992, Quyết định số 19/QLQH ngày 24/6/1992 của Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai về tứ cận tiếp giáp và căn cứ vào Hồ sơ đo đạc địa chính năm 1997 và năm 2005 (Sổ mục kê, hồ sơ kỹ thuật và biên bản xác định mốc giới thửa đất năm 1997; Hồ sơ biên bản giao nhận diện tích, kết quả đo đạc biên bản xác định mốc giới, ranh giới đo đạc năm 2005). Đều thể hiện phía sau Trạm Thủy văn, không có thửa đất, công trình nào mang tên Nguyễn Hồng T và của các hộ dân khác tiếp “giáp” bờ rào phía sau Trạm Thủy văn. Diện tích đất ông T sử dụng thuộc hành lang, đất bãi ven sông và thuộc hành lang đê điều sông Hồng do Nhà nước quản lý. Quá trình sử dụng đất, ông T không đứng tên trong hồ sơ địa chính qua các thời kỳ. Do đó, ông T cho rằng sử dụng diện tích đất này hợp pháp là chưa đủ căn cứ; trình bày của UBND thành phố Lào C là có cơ sở.

. Các tài liệu được nêu tại mục [4.1]; [4.2] được người bị kiện bổ sung

tại phiên tòa phúc thẩm là các tài liệu mới làm thay đổi nội dung vụ án, có căn cứ xác định: diện tích đất tiếp giáp phía sau Trạm Thủy văn và các công trình do ông Nguyễn Hồng T sử dụng làm chủ đầu tư tại vị trí phía sau Trạm Thủy văn là không hợp pháp và vi phạm về trật tự xây dựng; UBND thành phố Lào C đã ban hành Quyết định số 1979/QĐ-KPHQ ngày 22/5/2019 của Chủ tịch UBND thành phố Lào C về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, theo quy định tại các Điều 28, 29, 30 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 15, Điều 79, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng; Thông tư số 03/2018/TT.BXD hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP và một số văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Nhưng do công trình vi phạm đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính nên UBND thành phố Lào C không xử phạt vi phạm mà chỉ lập biên bản và quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Việc vi phạm về trật tự xây dựng của hộ ông Nguyễn Hồng T đã được Trạm Thủy văn phát hiện và đề nghị UBND phường Cốc L xử lý từ năm 2013, mặc dù đã được lập biên bản nhưng chưa được xử lý triệt để dẫn đến việc hộ ông Nguyễn Hồng T tiếp tục cơi nới xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng và phải cưỡng chế phá dỡ. Về vấn đề này, UBND thành phố Lào C cần phải nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm, Tuy nhiên, vấn đề này không làm thay đổi bản chất của vụ việc liên quan đến hành vi vi phạm về trật tự xây dựng của ông Nguyễn Hồng T, nếu không giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng đến hành lang an toàn của Trạm Thủy văn Lào C nói riêng và mạng lưới quan trắc Tài nguyên và Môi trường quốc gia nói chung, gây bất bình đẳng với các hộ khác có hồ sơ tương tự đã chấp hành tốt công tác đền bù giải phóng mặt bằng trong khu vực, gây bất ổn trong xã hội, thiệt hại lớn về kinh tế cho ngân sách Nhà nước. Vì vậy, UBND thành phố Lào C ban hành và thực hiện Quyết định số 2233/QĐ-CCXP ngày 03/6/2019 của Chủ tịch UBND thành phố Lào C về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng quy định. Do đó, cần phải sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng T.

. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản: Do ông Nguyễn Hồng T rút

yêu cầu bồi thường với số tiền là 564.920.000 đồng tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

. Về án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: do yêu cầu khởi kiện

không được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 2 Điều 241; khoản 2 Điều 349 Luật Tố tụng hành chính; Luật

người cao tuổi; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố

Lào C, tỉnh Lào C; Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào C như sau:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 358 Luật Tố tụng hành chính

năm 2015, xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng T đề nghị hủy:

- Quyết định số 1979/QĐ-KPHQ ngày 22/5/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân thành phố Lào C về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Hồng T;

- Quyết định số 2233/QĐ-CCXP ngày 03/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân thành phố Lào C về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Hồng T.

[2]. Về án phí:

[2.1]. Về án phí sơ thẩm:

- Người khởi kiện ông Nguyễn Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí

hành chính sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0000463 ngày 19/6/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào C.

- Ủy ban nhân dân thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai không phải chịu án phí

hành chính sơ thẩm.

[2.2]. Về án phí phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai

không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, hoàn trả lại cho Ủy ban nhân dân thành phố Lào C, tỉnh Lào Cai 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0001529 ngày 24/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.

[3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

- Ông Nguyễn Hồng T phải chịu 4.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định

tại chỗ, được đối trừ số tiền mà ông Nguyễn Hồng T đã nộp 4.000.000 đồng tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Ủy ban nhân dân thành phố Lào C không phải chịu chi phí xem xét, thẩm

định tại chỗ.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ