vanban.org

Bản án 159/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 08/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Trần Th Như Y, giữ nguyên Bản

án hình sự s thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 10/12/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Như Y - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Trần Th Như Y, giữ nguyên Bản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2021/HSPT
Ngày: 08-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Long

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Dũng

Ông Võ Ngọc Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Lê Văn Thành, Kiểm sát viên.

Vào ngày 08 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa

Thiên Huế xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 164/2021/TLPT-HS ngày

19 tháng 01 năm 2021 đối với b cáo Trần Thị Như Y về tội “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số

76/2020/HS-ST ngày 10-12-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 965/2021/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng

3 năm 2021.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Thị Như Y; sinh ngày 01/12/1985, tại Thừa Thiên Huế; n i

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; quốc t ch:

Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: lớp

12/12; con ông Trần Văn P và bà Nguyễn Th Hồng H; có chồng là Lê Hoàng L

và 01 con; tiền án, tiền sự: không; B cáo b bắt tạm giam từ ngày 18/10/2019

đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho b cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm

b cáo từ chối người bào chữa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2016, Trần Th Như Y. mở cửa hàng kinh doanh, buôn bán mặt hàng

đồ dùng cho trẻ em. Đến cuối năm 2017 thì b thua lỗ và không có tiền trả nợ cho một số người, nên Y có những thủ đoạn gian dối, nói với mọi người là mình đang làm kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận, nhưng do việc mở rộng kinh doanh thêm nhiều mặt hàng khác, như có đường dây mua bán hàng điện tử xuất qua nước Lào, mua hàng khuyến mại đồ dùng gia đình, mua bán đất nên cần vốn lớn. Y đã nói dối với mọi người thân quen cho Y vay mượn tiền trả lãi theo thỏa thuận hoặc góp vốn để kinh doanh mua bán hàng rồi chia lợi nhuận trong thời gian ngắn. Từ tháng 01/2018 đến tháng 7/2019, nhiều người tin tưởng lời nói của Y là thật, đã đưa tiền cho Y. Sau khi chiếm đoạt được tiền, Y lấy tiền của người sau trả cho người mượn tiền trước hoặc lấy tiền của người đưa để trả cho chính họ và sử dụng cá nhân như mua nhà, mua xe ô tô để phô trư ng nguồn tài sản của mình. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ch Nguyễn Th Sa L là bạn bè quen biết với Trần Th Như

Y. Đến cuối năm 2017, Y nói dối với ch Sa L là mình đang kinh doanh buôn bán mặt hàng bỉm Jo trẻ em, có đường dây mua bán hàng điện tử qua Lào không thuế, thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn. Y nói ch Sa L cho vay tiền trả lãi hoặc góp tiền một phần mua hàng để hưởng lợi nhuận. Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ch Nguyễn Th Sa L đã 17 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 16/01/2018, số tiền 250.000.000 đồng; Lần 2: ngày

17/02/2018, số tiền 100.000.000 đồng; Lần 3: ngày 21/5/2018, số tiền 145.000.000 đồng; Lần 4: ngày 26/7/2018, số tiền 250.000.000 đồng; Lần 5: ngày 02/8/2018, số tiền 800.000.000 đồng; Lần 6: ngày 25/8/2018, số tiền 700.000.000 đồng; Lần 7: ngày 13/10/2018, số tiền 450.000.000 đồng; Lần 8: ngày 20/10/2018, số tiền 240.000.000 đồng; Lần 9: ngày 30/10/2018, số tiền 800.000.000 đồng; Lần 10: ngày 15/11/2018, số tiền 100.000.000 đồng; Lần 11: ngày 17/11/2018, số tiền 300.000.000 đồng; Lần 12 ngày 29/11/2018, số tiền 150.000.000 đồng; Lần 13 ngày 10/12/2018, số tiền 400.000.000 đồng; Lần 14 ngày 27/12/2018, số tiền 600.000.000 đồng; Lần 15 ngày 25/01/2019, số tiền 500.000.000 đồng; Lần 16 ngày 21/04/2019, số tiền 500.000.000 đồng; Lần 17 ngày 03/5/2019, số tiền 700.000.000 đồng. Tổng cộng là 6.985.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/01/2018 đến ngày 03/5/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền vay, tiền lãi, tiền lợi nhuận cho ch Nguyễn Th Sa L số tiền 915.800.000đ, còn lại số tiền 6.069.200.000đ, Y chưa hoàn trả. Nhận thấy mình b lừa gạt nên ch Nguyễn Th Sa L đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ hai: Anh Võ Tiến S là bạn bè quen biết với anh Lê Hoàng L

(chồng của Trần Th Như Y). Ngày 27/11/2018, Y đã liên hệ với anh S và hỏi mượn anh S số tiền 80.000.000 đồng để mua hàng hóa kinh doanh. Tin tưởng lời nói của Y là thật, anh S đã đưa cho Y số tiền 80.000.000đ, Y chiếm đoạt tiêu xài cá nhân và trả nợ cho người khác. Hiện ý chưa trả lại tiền cho anh S. Nhận thấy mình b lừa gạt nên anh Võ Tiến S đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ ba: Ch Nguyễn Th Xuân T (là bà con cậu mợ của Y): Trước đó

Y có vay, mượn tiền của ch T để kinh doanh, nhưng do làm ăn thua lỗ không có

khả năng trả nợ. Y đã nói dối với ch T là việc làm ăn có nhiều lợi nhuận nhưng

do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn, Y nói ch T góp vốn kinh doanh

cùng chia lợi nhuận. Tin tưởng lời nói của Y là thật, ch T 04 lần đưa tiền cho Y

và Y đã chiếm đoạt, cụ thể:

Lần 1: ngày 17/12/2018, số tiền 2.180.000.000 đồng; Lần 2: ngày

26/01/2019, số tiền 700.000.000 đồng; Lần 3: ngày 19/3/2019, số tiền

1.000.000.000 đồng; Lần 4: ngày 29/5/2019, số tiền 200.000.000 đồng. Tổng

cộng là 4.380.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 17/12/2018 đến ngày 29/05/2019, Trần

Th Như Y đã trả tiền lại tiền vay, lợi nhuận cho ch Nguyễn Th Xuân T số tiền

1.800.000.000 đồng, còn lại số tiền 2.580.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận

thấy mình b lừa gạt nên ch Nguyễn Th Xuân T đã làm đ n tố cáo đến C quan

điều tra.

Vụ thứ tư: Ch Nguyễn Th T H (là bà con cậu mợ của chồng Y): Trước

đó Y có vay, mượn tiền của ch H để kinh doanh nhưng do làm ăn thua lỗ không

có khả năng trả nợ. Y đã nói dối với ch H là việc làm ăn có nhiều lợi nhuận

nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn, Y nói ch H cho Y vay

thêm tiền hoặc góp vốn cùng kinh doanh, chia lợi nhuận. Tin tưởng lời nói của

Y là thật, ch H 03 lần đưa tiền cho Y. Y đã chiếm đoạt, cụ thể:

Lần 1: ngày 29/12/2018, số tiền 1.000.000.000 đồng; Lần 2: ngày

02/3/2019, số tiền 2.000.000.000 đồng; Lần 3: ngày 17/6/2019, số tiền

1.000.000.000 đồng. Tổng cộng là 4.000.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 29/12/2018 đến ngày 17/6/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền vay, lợi nhuận cho ch Nguyễn Th T H số tiền

3.370.000.000 đồng, còn lại số tiền 630.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận

thấy mình b lừa gạt nên ch Nguyễn Th T H đã làm đ n tố cáo đến C quan

điều tra.

Vụ thứ năm: Ch Hồ Th Kiều L là bạn bè quen biết với Trần Th Như Y.

Y nói dối với ch L là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận, nhưng do mở

rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn. Y nói ch Kiều L góp tiền một phần mua

hàng để hưởng lợi nhuận.Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ch Hồ

Th Kiều L 05 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 07/01/2019, số tiền 100.000.000 đồng; Lần 2: ngày

09/01/2019, số tiền 100.000.000 đồng; Lần 3: ngày 12/01/2019, số tiền

300.000.000 đồng; Lần 4 ngày 30/01/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 5

ngày 05/02/2019, số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng là 750.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 07/01/2019 đến ngày 05/02/2019, Trần

Th Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Hồ Th Kiều L số tiền

500.000.000 đồng, còn lại số tiền 250.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận

thấy mình b lừa gạt nên ch Hồ Th Kiều L đã làm đ n tố cáo đến C quan điều

tra.

Vụ thứ sáu: Ch Lê Th TT là bạn bè quen biết với Trần Th Như Y. Y nói

dối với ch Ty là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở rộng

việc kinh doanh nên cần vốn lớn. Y đã đến gặp ch TT hỏi vay tiền để mua lại lô đất, mua hàng chi thêm lợi nhuận.Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ch Lê Th TT 02 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 29/01/2019, số tiền 600.000.000 đồng; Lần 2: ngày

06/6/2019 số tiền 500.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.100.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 29/01/2019 đến ngày 06/6/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Lê Th TT số tiền 185.000.000đ, còn lại số tiền 915.000.000đ, Y chưa hoàn trả. Nhận thấy mình b lừa gạt nên ch Lê Th TT đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ bảy: Ch Trư ng Th MM là bạn bè quen biết với Trần Th Như Y.

Y nói dối với ch Mi là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn. Y đã đến gặp ch MM nói góp tiền một phần mua hàng để hưởng lợi nhuận và cho Y vay tiền để kinh doanh.Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ch Trư ng Th MM đã 23 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 21/02/2019, số tiền 260.000.000 đồng; Lần 2: ngày

13/3/2019, số tiền 540.000.000 đồng; Lần 3: ngày 14/4/2019, số tiền 400.000.000 đồng; Lần 4: ngày 19/4/2019, số tiền 600.000.000 đồng; Lần 5: ngày 09/5/2019, số tiền 450.000.000 đồng; Lần 6: ngày 10/5/2019, số tiền 1.050.000.000 đồng; Lần 7: ngày 13/5/2019, số tiền 100.000.000 đồng; Lần 8: ngày 17/5/2019, số tiền 1.530.000.000 đồng; Lần 9: ngày 22/5/2019, số tiền 500.000.000 đồng; Lần 10: ngày 31/5/2019, số tiền 900.000.000 đồng; Lần 11: ngày 01/6/2019, số tiền 400.000.000 đồng; Lần 12: ngày 04/6/2019, số tiền 450.000.000; Lần 13: ngày 05/6/2019, số tiền 2.120.000.000 đồng; Lần 14: ngày 07/6/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 15: ngày 12/6/2019, số tiền 1.600.000.000 đồng; Lần 16: ngày 14/6/2019, số tiền 40.000.000 đồng; Lần 17: ngày 15/6/2019, số tiền 2.260.000.000 đồng; Lần 18: ngày 17/6/2019, số tiền 250.000.000 đồng; Lần 19: ngày 20/6/2019, số tiền 500.000.000 đồng; Lần 20: ngày 24/6/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 21: ngày 25/6/2019, số tiền 130.000.000 đồng; Lần 22: ngày 26/6/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 23: ngày 27/6/2019, số tiền 70.000.000 đồng. Tổng cộng là 14.350.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21/02/2019 đến ngày 27/6/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, tiền lợi nhuận cho ch Trư ng Th MM số tiền 762.000.000đ, còn lại số tiền 13.588.000.000đ, Y chưa hoàn trả. Nhận thấy mình b lừa gạt nên ch Trư ng Th MM đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ tám: Ch Lê Trần Khánh M là bạn bè quen biết với Trần Th Như

Y. Y nói dối với ch M là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên ch M góp tiền một phần mua hàng để hưởng lợi nhuận và cho Y vay thêm tiền. Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ch Lê Trần Khánh M 04 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 13/3/2019, số tiền 650.000.000 đồng; Lần 2: ngày 16/3/2019,

số tiền 100.000.000 đồng; Lần 3: ngày 11/4/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 4: ngày 29/5/2019, số tiền 250.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.200.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 13/3/2019 đến ngày 29/5/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Lê Trần Khánh M số tiền

170.000.000 đồng, còn lại số tiền 1.030.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận

thấy mình b lừa gạt nên ch Lê Trần Khánh M đã làm đ n tố cáo đến C quan

điều tra.

Vụ thứ chín: Ch Nguyễn Th Kiến T là bạn bè quen biết với Trần Th

Như Y. Y nói dối với ch T là đang làm ăn kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận

nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên ch T cho Y vay thêm

tiền để kinh doanh và đáo hạn ngân hàng. Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là

thật nên ch Nguyễn Th Kiến T 02 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 14/3/2019, số tiền 300.000.000 đồng; Lần 2: ngày 02/4/2019,

số tiền 3.800;000.000 đồng. Tổng cộng là 4.100.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 14/3/2019 đến ngày 02/4/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền vay và lợi nhuận cho ch Nguyễn Th Kiến T số tiền

1.850.500.000 đồng, còn lại số tiền 2.249.500.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận

thấy mình b lừa gạt nên ch Nguyễn Th Kiến T đã làm đ n tố cáo đến C quan

điều tra.

Vụ thứ mười: Ch Nguyễn Th Hồng N là bà con cô cậu với Trần Th Như

Y. Y nói dối với ch N là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do

mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên ch N góp tiền một phần mua

hàng để hưởng lợi nhuận và cho Y vay thêm tiền. Tin tưởng lời nói Trần Th

Như Y là thật nên ch Nguyễn Th Hồng N 02 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm

đoạt gồm:

Lần 1: ngày 03/5/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 2: ngày 15/5/2019,

số tiền 400.000.000 đồng. Tổng cộng là 600.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 03/05/2019 đến ngày 15/05/2019, Trần

Th Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Nguyễn Th Hồng N số

tiền 100.000.000 đồng, còn lại số tiền 500.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận

thấy mình b lừa gạt nên ch Nguyễn Th Hồng N đã làm đ n tố cáo đến C

quan điều tra.

Vụ thứ mười một: Ch Lê Th D là bạn bè quen biết với Trần Th Như ý.

Y nói dối với ch D là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở

rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên ch D góp tiền một phần mua hàng để

hưởng lợi nhuận và cho Y vay thêm tiền; Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là

thật nên ch Lê Th D 02 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày14/5/2019, số tiền 60.000.000 đồng; Lần 2: ngày 28/5/2019,

số tiền 100.000.000 đồng. Tổng cộng là 160.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2019 đến ngày 28/5/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Lê Th D số tiền 9.600.000

đồng, còn lại số tiền 150.400.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận thấy mình b lừa

gạt nên ch Lê Th D đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ mười hai: Ch Lê Th N là bạn bè quen biết với Trần Th Như Y.

Y nói dối với ch N là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở

rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên ch N góp tiền một phần mua hàng để hưởng lợi nhuận và cho Y vay thêm tiền. Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ch Lê Th N 06 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 15/05/2019, số tiền 140.000.000 đồng; Lần 2: ngày

22/05/2019 tiền 300.000.000 đồng; Lần 3 ngày 04/06/2019, số tiền 400.000.000 đồng; Lần 4 ngày 14/6/2019, số tiền 400.000.000 đồng; Lần 5 ngày 24/06/2019, số tiền 250.000.000 đồng; Lần 6 ngày 27/06/2019, số tiền 130.000.000 đồng; Tổng cộng là 1.620.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 15/5/2019 đến ngày 27/6/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Lê Th N số tiền 82.000.000 đồng, còn lại số tiền 1.538.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận thấy mình b lừa gạt nên ch Lê Th N đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ mười ba: Ch Phan Th Thy P là bạn bè quen biết với Trần Th

Như Y. Y nói dối với ch P là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên ch P góp tiền một phần mua hàng để hưởng lợi nhuận và cho Y vay thêm tiền. Tin tưởng lời nói Tràn Th Như Y là thật nên ch Phan Th Thy P 12 lần đưa tiền cho Y, Y đã chiếm đoạt gồm:

Lần 1: ngày 30/5/2019, số tiền 300.000.000 đồng; Lần 2: ngày 31/5/2019,

số tiền 200.000.000 đồng; Lần 3: ngày 05/6/2019, số tiền 100.000.000 đồng; Lần 4: ngày 06/06/2019, số tiền 250.000.000 đồng; Lần 5: ngày 07/6/2019, số tiền 280.000.000 đồng; Lần 6: ngày 11/6/2019, số tiền 300.000.000 đồng; Lần 7: ngày 12/06/2019, số tiền 650.000.000 đồng; Lần 8: ngày 14/06/2019, số tiền 500.000.000 đồng; Lần 9: ngày 15/06/2019, số tiền 180.000.000 đồng; Lần 10 ngày 17/06/2019, số tiền 200.000.000 đồng; Lần 11: ngày 26/06/2019, số tiền 600.000.000 đồng; Lần 12: ngày 27/06/2019, sô tiền 250.000.000 đồng. Tổng cộng là 3.865.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 30/5/2019 đến ngày 27/6/2019, Trần Th

Như Y đã trả tiền lại tiền góp vốn, lợi nhuận cho ch Phan Th Thy P số tiền 1.065.000.000 đồng, còn lại số tiền 2.800.000.000 đồng, Y chưa hoàn trả. Nhận thấy mình b lừa gạt nên ch Phan Th Thy P đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ mười bốn: Anh Nguyễn Hữu B là bạn bè quen biết vói Trần Th

Như Y. Y nói dối với anh B là đang kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng do mở rộng việc kinh doanh nên cần vốn lớn nên anh B góp một phần tiền cùng mua hàng để hưởng lợi nhuận và cho Y vay tiền. Tin tưởng lời nói Trần Th Như Y là thật nên ngày 07/06/2019, anh B đưa tiền cho Y 800.000.000 đồng, Y đã chiếm đoạt. Sau khi nhận tiền, Y hẹn đến ngày 22/06/2019 giao hết lô hàng điện tử cho các đại lý ở Lào rồi Y trả lại tiền vay, tiền lãi và chi thêm 50% lợi nhuận bán lô hàng. Đến hẹn trả tiền, Y nói chưa thu hết tiền khách ở Lào đợi thêm một thời gian nữa. Nhận thấy mình b lừa gạt nên anh Trần Hữu B đã làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

Vụ thứ mười lăm: Ch Trần Th O là bà con quen biết với Trần Th Như

Y. Khoảng 20h00 ngày 01/07/2019, Y điện gặp ch O nói là đang đặt cọc lô hàng để lấy gấp nhưng tài khoản của Y đã hết hạn mức chuyển tiền trong ngày, O cho Y mượn 100.000.000 đồng để chuyển cọc tiền hàng, sáng sớm ngày mai

Y chuyền trả lại 100.000.000 đồng, O nói chỉ có được mười triệu, Y nói không

đủ để hỏi người khác. Khoảng 30 phút sau, Y điện gặp ch O và nói Y đã thư ng

lượng chủ hàng họ cho đặt cọc 10.000.000 đồng, O cho Y mượn 10.000.000

đồng và nhờ O chuyển vào tài khoản của chủ hàng số 19033982134011 (TK của

Trư ng Th MM). Ch O tin lời Y nên đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào

TK số 19033982134011. số tiền này không phải để mua hàng mà Y chuyển trả

nợ cho ch Trư ng Th MM. Nhận thấy mình b lừa gạt nên ch Trần Th O đã

làm đ n tố cáo đến C quan điều tra.

C quan CSĐT đã Quyết đ nh trưng cầu giám đ nh số 43/VPCQCSĐT

ngày 05/8/2019; số 01 và 02/VPCQCSĐT ngày 24/12/2019 giám đ nh chữ ký và

chữ viết trên các tài liệu thu giữ (từ I.1 đến I6).

- Căn cứ vào Kết luận giám đ nh số: 415/GĐ ngày 21/08/2019, Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Chữ viết, chữ ký trên tài

liệu cần giám đ nh (02 tờ giấy của ch Ty; 01 tờ giấy của anh B; 01 tờ giấy của

ch Mĩ; 01 tờ giấy của ch M và 01 tờ giấy của anh S giao nộp) so với chữ viết,

chữ ký đứng tên Trần Th Như Y trên tài liệu mẫu do cùng một người viết và ký

ra.

- Căn cứ vào Kết luận giám đ nh số: 682/GĐ ngày 05/02/2020, Phòng Kỷ

thuật Hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

Chữ viết, chữ ký tại các trang giấy (từ trang số 8 đến trang 27, không có

trang số 9 và 17) trong quyển sổ do Trư ng Th MM giao nộp:

1. Chữ viết trên tài liệu cần giám đ nh so với chữ viết đứng tên Trần Th

Như Y trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người viết ra.

2. Không đủ c sở kết luận chữ viết mang tên “ý”, “Như Y” và “Y” trên

tài liệu cần giám đ nh tại trang số 8; số 10; số 11; số 12; số 13; số 14; số 15; số

16; số 18; số 19; số 20; số 21; số 22; số 23 và số 27 so với chữ viết đứng tên

Trần Th Như Y trên tài liệu mẫu.

3. Chữ ký mang tên “Như Y” trên tài liệu cần giám đ nh so với chữ ký

đứng tên Trần Th Như Y trên tài liệu mẫu do cùng một người ký ra.

- Căn cứ vào Kết luận giám đ nh số: 683/GĐ ngày 21/01/2020, Phòng Kỷ

thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Chữ viết, chữ ký trên tài

liệu cần giám đ nh (02 tờ giấy của ch Phan Th Thy P và 02 tờ giấy của ch

Nguyễn Th Kiến T) so với chữ viết, chữ ký đứng tên Trần Th Như Y trên tài

liệu mẫu do cùng một người viết và ký ra.

Với các nội dung trên,

Tại Bản án h nh sự s thẩm s 76/2020/HS-ST ngày 10/12/2020, Tòa

án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đ uyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: B cáo Trần Th Như Y tù Chung thân về tội “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam

18/10/2019.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh trách nhiệm dân sự, xử lý vật

chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Trong hạn luật đ nh,

Ngày 18/12/2020 b cáo Trần Th Như Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 7/2019, trên đ a

bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Th Như Y đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của nhiều người, cụ thể như sau: Ch Nguyễn Th Sa L số tiền 6.985.000.000 đồng, anh Võ Tiến S 80.000.000 đồng, ch Nguyễn Th Xuân T 4.380.000.000 đồng, ch Nguyễn Th T H 4.000.000.000 đồng, ch Hồ Th Kiều L 750.000.000 đồng, ch Lê Th TT 1.100.000.000 đồng, ch Trư ng Th MM 14.350.000.000 đồng, ch Lê Trần Khánh M 1.200.000.000 đồng, ch Nguyễn Th Kiến T 4.100.000.000 đồng, ch Nguyễn Th Hồng N 600.000.000 đồng, ch Lê Th D 160.000.000 đồng, ch Lê Th N 1.620.000.000 đồng, ch Phan Th Thy P 3.865.000.000 đồng, anh Nguyễn Hữu B 800.000.000 đồng, ch Trần Th O 10.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền Y đã chiếm đoạt là 44.000.000.000 đồng, b cáo dùng số tiền này để trả nợ cho người khác còn lại sử dụng tiêu xài cá nhân. Toà án cấp s thẩm tuyên bố b cáo Trần Th Như Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của Trần Th Như Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

Xét thấy b cáo Trần Th Như Y dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản

của nhiều người, thực hiện nhiều lần với số tiền đặc biệt lớn 44.000.000.000 đồng, số tiền chiếm đoạt gấp 88 lần khởi điểm của khung hình phạt, hành vi của b cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhiều người, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình tr an tại đ a phư ng nên cần phải xử lý nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.

Án s thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

được quy đ nh tại khoản 1 Điều 51; Áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt b cáo tù Chung thân là tư ng xứng với tính chất và mức độ, hành vi phạm tội của b cáo.

. Tại phiên toà phúc thẩm, b cáo kháng cáo không có chứng cứ nào

mới, khác so với án s thẩm. Nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét chấp nhận kháng cáo.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của b cáo không được

chấp nhận nên b cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

. Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề

ngh không chấp nhận kháng cáo của b cáo. Đề ngh này phù hợp với nhận đ nh

của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

. Các quyết đ nh khác còn lại của bản án s thẩm không có kháng cáo,

kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 của Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng

hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Trần Th Như Y, giữ nguyên Bản

án hình sự s thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 10/12/2020, Tòa án nhân dân tỉnh

Thừa Thiên Huế.

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: B cáo Trần Th Như Y tù Chung thân, về tội: “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam

18/10/2019.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Trần Th Như Y phải ch u 200.000

đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết đ nh khác còn lại của bản án s thẩm không có kháng cáo,

kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ