vanban.org

Bản án 159/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 15/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn c điểm a khoản 3 Điều 174, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/12/2020 về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Th tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2021/HS-PT
Ngày: 15/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Vinh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông

Ông Nguyễn Gia Lương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên .

Ngày 15/11/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 327/TLPT-HS ngày 20/10/2021 đối với bị cáo Hoàng Văn Th do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2021/HSST ngày 10/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Họ và tên: Ho n V n Th; Sinh năm: 1982; tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản N, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Ch c vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đ : Hoàng Văn Th, sinh năm 1960; M đ : Dương Thị L, sinh năm 1961; V : hạm Thị Huyền Tr, sinh năm 1986 đã ly hôn ; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nh sinh năm 2013;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam t ngày 04/12/2020.

Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang Có mặt

Trong vụ án này còn có một số người tham gia tố tụng khác nhưng do không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2019, ông Trương Văn S có nói chuyện với ông Leo Văn Th về việc ông S muốn xin chuyển công tác con trai là anh Trương Minh Hoan, sinh năm 1993, hiện đang công tác tại Tiểu đoàn Cảnh sát Đặc nhiệm số 3 thuộc Bộ tư lệnh Cảnh sát Cơ động, đóng quân tại thành phố Đà N ng về Công an tỉnh Bắc Giang công tác cho g n nhà, nhưng không biết nhờ ai. Ông Th nói với ông S về việc ông Th có người con nuôi là Hoàng Văn Th, sinh năm 1982 trú tại Bản N, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ xã hội rộng, có thể gúp đư c việc này. Nghe ông Th nói vậy, ông S nhờ ông Th giúp h n gặp Th. Khoảng mấy ngày sau tại nhà ông Leo Văn Th, ông S gặp Hoàng Văn Th và đặt vấn đề muốn nhờ Th xin chuyển công tác cho con trai là anh H t Công an thành phố Đà N ng về Công an tỉnh Bắc Giang. Th nói với ông S, Th có người quen ở Bộ không nói r ở Bộ nào , s giúp đư c việc chuyển công tác cho anh H. Sau đó ông S đã lấy số điện thoại của Th để liên lạc. Vài ngày sau, tại nhà ông Th, ông S tiếp tục gặp Hoàng Văn Th, lúc này còn có anh Leo Văn Tr, sinh năm 1981 là con trai ông Th ; anh Vi Văn Kiên, sinh năm 1978, trú tại thôn p, xã Tân Quang, huyện L và ông Th. Th có bảo với ông S r ng chi phí để lo chuyển công tác cho anh H về Bắc Giang là 200.000.000 đồng, ông S nhất trí. Sau khi ông S thu xếp đủ tiền, Th bảo ông S chuyển vào tài khoản của Th và bảo ông S chuyển thêm 10.000.000 đồng chi phí đi lại, t ng cộng là 210.000.000 đồng Hai trăm mười triệu đồng , ông S nhất trí. Ngày 03/4/2019 ông S cùng v là bà Dương Thị Ch, sinh năm 1974 và ông Th cùng nhau đến Chi nhánh ngân hàng Agribank tại L, xã G, huyện L để chuyển số tiền 210.000.000 đồng Hai trăm mười triệu đồng vào số tài khoản 2508205201511 của Th mở tại Ngân hàng Agribank chi nhánh Y. Khi chuyển tiền cho Th, do ông S, bà Chỉnh muốn gắn trách nhiệm của ông Th nên đã bảo ông Th đ ng tên người gửi, viết giấy và ký giấy chuyển tiền vào tài khoản của Th. Tuy nhiên sau đó Th h a h n nhiều l n nhưng v n không xin chuyển đư c công tác cho anh H về Bắc Giang, c ng không trả lại số tiền nêu trên cho ông S. Ông S đã nhiều l n gọi điện thoại và trực tiếp đến nhà Th đòi lại số tiền trên nhưng Th h a h n nhiều l n v n không trả cho ông S. Ngày 22/5/2020 ông S có đơn tố cáo gửi Công an huyện L đề nghị giải quyết. Đồng thời ông S giao nộp 01 bản photo giấy nộp tiền trong đó xác định ngày 03/4/2019 ông Leo Văn Th đã nộp số tiền 210.000.000 đồng vào tài khoản 2508205201511 của Hoàng Văn Th.

Ngày 31/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã có Công văn gửi Ngân hàng Nông nghiệp và hát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang Agribank II đề nghị cung cấp thông tin liên quan đến số tài khoản 2508205201511. Tại Công văn phúc đáp ngày 05/8/2020 của Ngân hàng Nông nghiệp và hát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang xác định số tài khoản 2508205201511 mang tên Hoàng Văn Th mở tại Agribank chi nhánh Y kèm theo là s phụ sao kê tài khoản t ngày 03/4/2019 đến ngày 26/4/2019 . Trong s phụ sao kê tài khoản đã xác định ngày 03/4/2019 ông Leo Văn Th đã nộp số tiền 210.000.000 đồng vào tài khoản 2508205201511 của Hoàng Văn Th.

Ngày 28/10/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L có Công văn đề nghị Ngân hàng Agribank, phòng giao dịch L, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp giấy nộp tiền ngày 03/4/2019 mang tên người nộp Leo Văn Th, người nhận tiền Hoàng Văn Th. Cùng ngày 28/10/2020 Ngân hàng Agribank, phòng giao dịch L chi nhánh L đã cung cấp cho Cơ quan điều tra 01 bản sao giấy nộp tiền ngày 03/4/2019, người nộp tiền Leo Văn Th, nội dung: chuyển số tiền 210.000.000 đồng vào số tài khoản 2508205201511 mang tên Hoàng Văn Th.

Trong các ngày 27/7/2020 và 02, 06, 10/8/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã cho ông Trương Văn S, bà Dương Thị Chỉnh, anh Leo Văn Tr, anh Vi Văn Kiên nhận dạng Hoàng Văn Th qua bản ảnh. Kết quả nh ng người này đều nhận ra Hoàng Văn Th.

Ngày 04/12/2020 Cơ quan điều tra tạm gi của Hoàng Văn Th 02 điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 lus, số Imei: 355353087661942, màu đen, ốp đen viền xanh rêu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen đã qua sử dụng; 02 USB b ng kim loại, nhãn hiệu MGN, màu trắng, bên trong có ch a 06 đoạn video Cơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu ra đ a CD để phục vụ công tác điều tra ; 01 đơn tố cáo đề ngày 19/5/2020; 01 đơn khởi kiện ngày 27/7/2020; 01 đơn đề nghị ngày 30/3/2020 đều liên quan đến việc Th tố cáo, đề nghị giải quyết việc Leo Thị Trang n tiền Th không trả; 08 tờ giấy thống kê tiền n t năm 2015 đến năm 2019.

Quá trình điều tra vụ án, Hoàng Văn Th liên tục thay đ i lời khai. Ban đ u Th th a nhận khoảng tháng 3/2019 tại nhà ông Th, Th gặp ông S, tại đây ông S có đặt vấn đề nhờ Th xin chuyển công tác cho con trai là anh H hiện đang công tác tại Công an thành phố Đà N ng về Công an tỉnh Bắc Giang, Th nhất trí. Do trước đó thông qua Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, trú quán óm Đèo Bụt, xã H p Tiến, huyện Đồng H , tỉnh Thái Nguyên, Th có quen biết với Nguyễn Thế H, sinh năm 1967, gi ch c vụ hó phòng t ng h p Thanh tra Bộ Công an nên Th đã điện thoại cho ông H để nhờ xin chuyển việc cho anh H. Ông H nhất trí và nói là phải mất chi phí là 200.00.000 đồng. Th đã báo lại cho ông S biết và bảo ông S đưa thêm 10.000.000 đồng chi phí đi lại, ông S đồng ý. Ngày 03/4/2019 Th nhận đư c số tiền 210.000.000 đồng của ông Trương Văn S do ông Leo Văn Th chuyển vào số tài khoản 2508205201511 của Th mở tại Ngân hàng Agribank để xin chuyển công tác cho anh H. Ngày 04/4/2019 Th đã rút toàn bộ số tiền 210.000.000 đồng trên và mư n chiếc xe ô tô nhãn hiệu ord anger của anh Nguyễn Văn H đem tiền ra Hà Nội giao cho H. Địa điểm giao tiền là ở tại đ u c u Th, Hà Nội, khi giao tiền, Hà ngồi trên xe ô tô màu trắng nhãn hiệu Huyndai Sonata, Th đã đưa toàn bộ số tiền 210.000.000 đồng cho Hà qua cửa s ô tô, khi đưa không làm giấy tờ gì. Sau khi Hà không xin chuyển công tác đư c cho anh H, Th đã tìm Hà đòi tiền nhưng không đòi đư c. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác minh tại Bộ Công an, xác định tại Bộ Công an có cán bộ mang tên Nguyễn Thế H, sinh năm 1976 nguyên là cán bộ hòng chống tham nh ng hòng 7 , Thanh tra Bộ Công an, hiện Hà vi phạm pháp luật nên đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã cho Hoàng Văn Th nhận dạng đối với Nguyễn Thế H qua ảnh, kết quả Th nhận dạng đư c đúng Nguyễn Thế H. Tiến hành làm việc với Nguyễn Thế H, Hà xác định không quen biết Th và không th a nhận đã nhận số tiền 210.000.000 đồng của Th để xin chuyển công tác cho ai cả. Tiến hành cho Hà nhận dạng Th qua ảnh nhưng Hà không nhận ra. Tiến hành cho Hà đối chất với Th, kết quả hai bên v n gi nguyên lời khai. Do kết quả sao kê tài khoản 2508205201511 mang tên Hoàng Văn Th do Ngân hàng Nông nghiệp và hát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang cung cấp xác định ngày 03/4/2019 ông Leo Văn Th đã nộp số tiền 210.000.000 đồng vào tài khoản của Th, số tiền này Th đã rút thành nhiều l n trong nhiều ngày sau đó. Lúc này Th lại thay đ i lời khai xác định Th ng tiền mặt của Th ra để chuyển cho Hà, còn số tiền ông Th chuyển hộ ông S, Th rút ra tiêu d n. Sau đó Th thay đ i lời khai xác định việc liên hệ với Nguyễn Thế H nhờ chuyển công tác cho anh H là thông qua Nguyễn Văn H. Ngoài ra còn có chị Lưu Thị Lệ v anh Hiếu ; anh Hoàng Văn D ng, sinh năm 1970 trú quán xã ên hú, huyện ên M , tỉnh Hưng ên; anh Chiến người ên M , tỉnh Hưng ên; anh Trương Đình Đoàn, sinh năm 1971 trú quán thôn Lưu Trung, xã Liêu á, huyện ên M , tỉnh Hưng ên và anh Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1977, trú tại phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội biết việc Th nhờ Hà xin chuyển công tác hộ, biết việc Th chuẩn bị đi giao tiền cho Hà. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với anh Hiếu, anh Hiếu xác định không đư c giúp Th liên hệ với anh Hà để nhờ anh Hà chuyển công tác cho ai, c ng không biết việc Th chuyển tiền nhờ anh Hà như thế nào; Chị Lệ, anh Đoàn, anh Tuấn đều xác định không đư c ch ng kiến hay biết việc Th nhờ Hà xin chuyển công tác cho ai, không biết việc Th giao tiền, đòi tiền Hà. Đối với anh Chiến do Th không biết r địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không làm r đư c nhân thân, lai lịch; anh Hoàng Văn D ng vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không tiến hành làm việc đư c. Sau đó Th lại thay đ i lời khai xác định không đư c nhận số tiền 210.000.000 đồng của ông Trương Văn S để xin chuyển công tác cho anh H. Số tiền 210.000.000 đồng ông Leo Văn Th chuyển cho Th vào ngày 03/4/2019 là tiền ông Th trả n cho Th thay con gái là chị Leo Thị Trang, hiện chị Trang đang n Th số tiền hơn 1 t đồng. Tiến hành làm việc với chị Trang, chị Trang xác định không vay và không n Th số tiền nêu trên do đó c ng không có việc ông Th trả Th số tiền 210.000.000 đồng thay chị. Tiến hành cho Th đối chất với ông Th, ông S nh ng người này v n gi nguyên lời khai.

Ngày 14/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành kiểm tra 02 chiếc điện thoại di động đã thu gi của Hoàng Văn Th. Kết quả: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 trong ph n danh bạ có lưu số điện thoại mang tên Dung Tho , Ha Chi , Ha 7 , Hieu Beo , A Siu , theo lời trình bày của Th số điện thoại mang tên Dung Tho đó là số điện thoại của Hoàng Văn D ng, trú tại: ên M – Hưng ên; số điện thoại mang tên Ha Chi là của Leo Thị Trang, số điện thoại mang tên Ha 7 là của Nguyễn Thái Hà; số điện thoại mang tên Hieu Beo là của Nguyễn Văn H; số điện thoại mang tên A Siu là của ông Trương Văn S là nh ng người liên quan đến vụ án. Kiểm tra các nội dung khác và các số điện thoại khác không liên quan đến vụ án. Chiếc điện thoại Iphone 7 lus xác định trong tin nhắn có nhiều tin nhắn trao đ i gi a Th và Leo Thị Trang con gái ông Th về việc Th đòi n Trang, Cơ quan điều tra đã tiến hành chụp ảnh lưu hồ sơ; tại ph n ghi âm của điện thoại có nhiều mục ghi âm có nội dung liên quan đến việc Th đòi n Trang; 01 đoạn ghi âm mang tên ã X 5 . Th trình bày đoạn ghi âm mang tên ã X 5 là do Th ghi âm lại cuộc gọi của Th với anh Đoàn ở ên M , tỉnh Hưng ên liên quan đến nội dung vụ án. Cơ quan điều tra đã tiến hành sao đoạn ghi âm trên ra đ a CD - và niêm phong trong bì thư ký hiệu A để phục vụ việc giải quyết vụ án.

Ngày 29/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành Trưng c u giám định đoạn ghi âm trong chiếc đ a đ a CD - đư c niêm phong trong bì thư ký hiệu A . Tại Kết luận giám định số 275/KL- KTHS ngày 08/02/2021 của hòng k thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đã tiến hành dịch nội dung đoạn hội thoại trong đ a CD – nêu trên BL: 326-329 . Ban đ u Th xác định đây là cuộc điện thoại gi a Th và anh Trương Đình Đoàn ghi âm lại, sau Th thay đ i lời khai xác định đó không phải là anh Đoàn mà Th không nhớ là cuộc điện thoại đó Th gọi cho ai và ghi âm lại. Tiến hành làm việc với anh Đoàn, anh Đoàn xác định không có việc Th gọi điện thoại cho anh nói chuyện về việc Th, Hiếu đưa tiền cho người khác nhờ chuyển công tác .

Ngày 26/03/2021 anh Vi Văn Kiên giao nộp 01 đoạn video đư c anh quay b ng điện thoại di động, nội dung sự việc anh cùng với ông S, bà Chỉnh đến nhà Th đòi số tiền 210.000.000 đồng và ông Trương Văn S giao nộp 01 tệp ghi âm cuộc điện thoại ông và bà Chỉnh gọi điện đòi tiền Th. Cơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu đoạn video và tệp ghi âm do anh Kiên, ông S giao nộp vào trong 01 đ a DVD màu trắng xám nhãn hiệu Sigma, đư c niêm phong trong bì thư ký hiệu Video; Ghi am .

Trong các ngày 26, 27, 30/3/2021 Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi âm và thu giọng nói của ông Trương Văn S, bà Vi Thị Chỉnh, anh Vi Văn Kiên, bà Dương Thị Lệ và bị can Th để phục vụ công tác giám định.

Ngày 31/3/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định trưng c u giám định đối với 01 đoạn video do anh Vi Văn Kiên giao nộp và 01 tệp ghi âm do ông Trương Văn S giao nộp đư c lưu tr trong 01 đ a DVD màu trắng xám nhãn hiệu Sigma, đư c niêm phong trong bì thư ký hiệu Video; Ghi am . Tại kết luận giám định số 2513/C09- 6 của Viện khoa học k thuật hình sự Bộ Công an kết luận:

- Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp ghi âm và tệp video m u c n giám định.

- Tiếng nói của người phụ n đư c gọi là chị và xưng chị trong tệp ghi âm và tệp video m u c n giám định đư c ký hiệu là Chỉnh trong bản dịch nội dung ghi âm m u c n giám định và tiếng nói của Dương Thị Chỉnh trong m u so sánh là của cùng một người.

- Tiếng nói của người đàn ông đư c gọi tên là S và xưng là anh trong tệp ghi âm và tệp video m u c n giám định đư c ký hiệu là S trong bản dịch nội dung ghi âm m u c n giám định và tiếng nói của Trương Văn S trong m u so sánh là của cùng một người.

- Tiếng nói của người đàn ông đư c gọi tên là Th và xưng là em trong tệp ghi âm và tệp video m u c n giám định đư c ký hiệu là Th trong bản dịch nội dung ghi âm m u c n giám định và tiếng nói của Hoàng Văn Th trong m u so sánh là của cùng một người.

- Không xác định đư c tiếng nói của Vi Văn Kiên và Dương Thị Lệ có trong tệp video m u c n giám định do thời lư ng nói của người c n giám định quá ngắn.

- Toàn bộ nội dung các cuộc nói chuyện trong m u c n giám định đã đư c dịch thành văn bản.

- Kèm theo kết luận giám định gồm 01 bản dịch nội dung ghi âm m u c n giám định gồm 14 trang A4

Tại bản Cáo trạng số 37/ CT – VKS - HS ngày 28 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Th về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 59/2021/HSST ngày 10/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: Căn c điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38 Bộ luật hình sự.

ử phạt: Hoàng Văn Th 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/12/2020 về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản .

Về trách nhiệm dân sự: p dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Hoàng Văn Th phải trả lại cho ông Trương Văn S, bà Dương Thị Ch số tiền 210.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật ch ng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17/9/2021 bị cáo Th làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo ở m c thấp nhất.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Th thay đ i yêu c u kháng cáo kêu oan, không xin giảm nh hình phạt, với lý do:

Bị cáo không đư c nhận tiền của bị hại ông Trương Văn S, bị cáo không quen biết ông S. Còn ông Th trả n tiền thay cho con ông Leo Văn Th n tiền bị cáo. Bị cáo không nhất trí bồi thường cho ông S, vì bị cáo không nhận tiền của ông S.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo đưa ra và đề nghị HĐ áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ Luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Gi nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính h p pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên đư c coi là đơn kháng cáo h p pháp c n đư c chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đ i nội dung kháng cáo, theo quy định tại khoản 1 Điều 342 BLTTHS đư c xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

ét hành vi phạm tội của bị cáo qua các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định: Mặc dù trong quá trình điều tra c ng như tại phiên toà, bị cáo Hoàng Văn Th không th a nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên căn c vào lời khai của người bị hại, người có quyền l i và ngh a vụ liên quan, người làm ch ng, bản dịch đ a ghi âm cuộc trao đ i của bị cáo Th với bị hại và nh ng người liên quan, bản tự khai của bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án liên quan đến việc nhận tiền để chuyển công tác cho con ông Trương Văn S. Do vậy đủ căn c x¸c ®Þnh Hoàng Văn Th sinh năm 1982, trú quán Bản N, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là người không có ch c vụ quyền hạn trong việc điều chuyển cán bộ, chiến s trong lực lư ng Công an nhân dân. Vào khoảng tháng 4/2019 Hoàng Văn Th đã có hành vi gian dối h a h n với ông Trương Văn S về việc bản thân có khả năng xin chuyển công tác cho anh Trương Minh Hoan là con trai ông S đang công tác tại Công an thành phố Đà N ng về công tác tại Công an tỉnh Bắc Giang để chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng của ông S.

Hành vi nêu trên của Hoàng Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Tội danh và hình phạt đư c quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Bản án sơ thẩm căn c vào các ch ng c , tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ, diễn biến tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn c và đúng pháp luật, không oan.

ét kháng cáo kêu oan của bị cáo Hoàng Văn Th thì thấy:

- n sơ thẩm sau khi xem xét các ch ng c tài liệu có trong hồ sơ đã đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo đã xử phạt bị cáo 08 năm 06 tháng tù về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản là hoàn toàn có căn c , đúng người, đúng tội và tương x ng đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đ i kháng cáo kêu oan nhưng không đưa ra đư c căn c ch ng minh. Do vậy không có căn c chấp nhận kháng cáo, c n gi nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

- Trách nhiệm dân sự: C n buộc bị cáo trả lại cho ông Leo Văn S, bà Dương Thị Ch số tiền đã chiếm đoạt 210.00.000 đồng.

- Vật ch ng: Tịch thu xung công qu nhà nước vật ch ng liên quan đến việc phạm tội, vật ch ng không liên quan trả lại cho bị cáo nhưng tạm gi để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Do không đư c chấp nhận kháng cáo, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn c vào điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Th. Gi nguyên bản án sơ thẩm.

Căn c điểm a khoản 3 Điều 174, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/12/2020 về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản .

Về trách nhiệm dân sự: p dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Hoàng Văn Th phải trả lại cho ông Trương Văn S, bà Dương Thị Ch số tiền 210.000.000 đồng.

2. Về xử lý vật ch ng: p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 lus, số Imei: 355353087661942, màu đen, ốp đen viền xanh rêu đã qua sử dụng nhưng tạm gi để đảm bảo thi hành án. Tịch thu xung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen đã qua sử dụng.

3. Về án phí: p dụng Điều 135, 136 Bé luËt tè tông h×nh sù 2015. c¸c ®iÒu 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm, 10.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.

Kể t ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường h p cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể t ngày có đơn yêu c u thi hành án của người đư c thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ