vanban.org

Bản án 159/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2021/DS-ST
Ngày 14-12-2021
V/v "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Năm

2. Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 706/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2020 về việc "Tranh chấp hợp đồng góp hụi" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2021/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 246/2021/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2021 và Thông báo về việc tiếp tục xét xử vụ án số: 379/TB-TA ngày 19 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960 (Có mặt), trú tại: Ấp 6, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Ngô Đức B (Vắng mặt) – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Võ Thị D, sinh năm 1965 (Vắng mặt), ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967 (Vắng mặt), trú tại: Ấp 6, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà là chủ dây hụi ngày 18/01/2018 âl, loại hụi 1.000.000 đồng, có 32 phần, khui 01 lần/tháng, bà D và ông D tham gia 01 chưng ở thứ tự số “09”; đến kỳ hụi thứ hai, bà D và ông D bỏ hụi và hốt số tiền 18.200.000 đồng. Tính từ thời điểm hốt và đến thời điểm mãn hụi ngày 18/7/2020 âl, ông D và bà D phải đóng tiền hụi chết cho bà 30 kỳ, ông D và bà D đóng cho bà được 08 kỳ, còn lại 22 kỳ x 1.000.000 đồng = 22.000.000 đồng. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Võ Thị D trả tiền hụi còn lại với số tiền 22.000.000 đồng.

Đối với bị đơn bà Võ Thị D, ông Nguyễn Văn D: Khi thụ lý, Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Các thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà D, ông D vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án đã được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn bà Võ Thị D, ông Nguyễn Văn D vắng mặt.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Võ Thị D, ông Nguyễn Văn D vắng mặt, còn nguyên đơn bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại Bản luận cứ bảo vệ ngày 14/12/2021, ông Ngô Đức B đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Võ Thị D và ông Nguyễn Văn D có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T tiền hụi 22.000.000 đồng; Miễn nộp án phí cho bà T theo quy định.

*/ Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:

1/ Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, nhưng có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, do ảnh hưởng dịch bệnh Covid–19.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, còn bị đơn không hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, không chấp hành đúng theo triệu tập của Tòa án.

2/ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Võ Thị D và ông Nguyễn Văn D có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T tiền hụi 22.000.000 đồng; Về án phí xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Các đương sự tại vụ án có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời và quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 25; khoản 3 Điều 26 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. D thời, do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Bà T là chủ dây hụi ngày 18/01/2018 âl, loại hụi 1.000.000 đồng, có 32 phần, khui 01 lần/tháng, bà D và ông D tham gia 01 chưng ở thứ tự số “09”; đến kỳ hụi thứ hai, bà D và ông D bỏ hụi và hốt số tiền 18.200.000 đồng. Tính từ thời điểm hốt và đến thời điểm mãn hụi ngày 18/7/2020 âl, ông D và bà D phải đóng tiền hụi chết cho bà T 30 kỳ, ông D và bà D đóng cho bà T được 08 kỳ, còn lại 22 kỳ x 1.000.000 đồng = 22.000.000 đồng. Bà T có cung cấp cho Tòa án “giấy giao kèo luật hụi” ngày 18/01/2018 âl và “Biên nhận” ngày 29/02/2018 âl, có chữ ký, chữ viết của ông D, bà D, thể hiện rõ số tiền bà T có giao tiền hụi cho ông D, bà D.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D và bà D không có tham gia tố tụng, Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng phía ông D, bà D vắng mặt, không có văn bản kèm theo tài liệu, chứng cứ nêu ý kiến phản đối gửi đến Tòa án theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. D thời, tại Biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 02/3/2021 đối với Lê Văn Khởi, Hứa Thị Đượm, Nguyễn Thị Mai (các hụi viên ở dây hụi ngày 18/01/2018 âl) trình bày khớp với nội dung khởi kiện của bà T. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 92; Điều 93; Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông D và bà D có trách nhiệm trả cho bà T tiền hụi là 22.000.000 đồng theo đề nghị của trợ giúp pháp lý ông Ngô Đức B bảo vệ cho bà T và đề nghị của Viện kiểm sát, là phù hợp.

Về án phí: Do, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T nên cần buộc bà D và ông D phải nộp án phí dân sự có giá ngạch số tiền 1.100.000 đồng (22.000.000 đồng x 5%). Còn, bà T không có dự nộp án phí (thuộc trường hợp miễn dự nộp án phí) nên không đặt ra xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471; điểm b, khoản 1, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 27; Điều 30; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2014; Khoản 1 Điều 25; khoản 3 Điều 26 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Võ Thị D và ông Nguyễn Văn D có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T tiền hụi 22.000.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi hai triệu đồng).

2. “Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả”.

3. Về án phí: Buộc bà Võ Thị D, ông Nguyễn Văn D phải nộp án phí dân sự có giá ngạch số tiền 1.100.000 đồng (bằng chữ: Một triệu một trăm ngàn đồng - Chưa nộp).

4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Võ Thị D và ông Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Về nghĩa vụ thi hành án: “Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ