- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Lê Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 159/2020/HSST Ngày 17/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội dồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Liên Sơn
Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Hợp
Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:
Ông Dương Thái Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2020/HSST ngày 21/5/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/QĐXX -ST ngày 02/6/2020, đối với các bị cáo:
Lê Văn H- Sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Phố K, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: không cố định; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lê Văn T; Họ tên mẹ: Chu Thị H; Tiền án- Tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 09/3/2020. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội.
( Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: anh Nguyễn Thanh T- Sinh 1998; Trú tại: Thôn T, xã N, huyện Thường Tín, Hà Nội. ( Vắng mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Trần Xuân H- Sinh 2000; Trú tại:
106A, ngõ G, phường H, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
( Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 08/3/2020, Lê Văn H đến chơi game tại máy số 30, tầng 4 quán game số 127 phố Lê Thanh Nghị, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi H chuẩn bị đi về thì phát hiện anh Nguyễn Thanh T ngồi chơi game tại máy số 29( bên cạnh phía tay trái H), để chiếc ba lô dưới chân. H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc ba lô của anh T. H đứng ra phía sau anh T, lợi dụng lúc anh T không để ý, H ngồi xuống dùng tay phải rút chiếc ba lô trong gầm ghế ra rồi đi khỏi quán game. Sau khi đi ra khỏi quán game, H kiểm tra ba lô thì phát hiện bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Macbook. H mang chiếc máy tính đến cửa hàng mua bán máy tính của anh Trần Xuân H tại số 220 L, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Tại đây H bán chiếc máy tính xách tay cho anh H được 12 triệu đồng. Khi H cất tiền bán máy tính vào ba lô thì phát hiện trong ba lô còn có số tiền 10 triệu đồng+ 01 đồng hồ App Watch. H đã tiêu xài cá nhân số tiền 07 triệu đồng, còn lại số tiền 15 triệu đồng để trong ba lô.
Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, trên cơ sở đơn trình báo của anh T, Công an phường Đồng Tâm phối hợp với Công an phường Mai Dịch tiến hành định vị chiếc App Watch của anh T để trong ba lô, phát hiện H đang cầm chiếc ba lô của anh T ở địa chỉ số 12 Hồ Tùng Mậu, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Cơ quan Công an đã đến địa chỉ trên phát hiện H đang giữ chiếc ba lô của anh T. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong ba lô có 01 chiếc đồng hồ App Watch màu đen và số tiền 15 triệu đồng. Tổ công tác đã đưa H cùng tang vật về trụ sở để điều tra làm rõ.
Tại cơ quan Công an, H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc ba lô của anh T.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Pro 2018 do anh H tự giác giao nộp.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19/KL-HĐ ĐGTS ngày 04/4/2020. Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Hai bà Trưng đã kết luận: 01 chiếc đồng hồ App Watch sezi4, màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Pro 2018, màu ghi xám, đã qua sử dụng; 01 túi đựng laptop màu xám, đã qua sử dụng có tổng giá trị: 28.100.000đ( Hai mươi tám triệu một trăm nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T 01 chiếc đồng hồ App Watch sezi4,; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Pro 2018; 01 túi đựng laptop màu xám.
Số tiền 15 triệu đồng thu giữ của H hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án quận Hai Bà Trưng.
Anh Nguyễn Thanh T yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 10 triệu đồng.
Anh Trần Xuân H yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 12 triệu đồng.
Tại Bản cáo trạng số 157/CT/VKS-HBT ngày 14/5/2020, VKSND quận Hai Bà Trưng đã truy tố Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng căn cứ lời khai thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như trong quá trình điều tra; Căn cứ lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Căn cứ Kết luận định giá tài sản: xác định bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản. Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i( phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng), s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt Lê Văn H từ 24 đến 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 09/3/2020.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền bị cáo;
Về dân sự: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự: trả lại anh Nguyễn Thanh T số tiền10 triệu đồng, trả lại anh H 05 triệu đồng( trích từ số tiền 15 triệu đồng thu giữ của bị cáo). Buộc bị cáo phải tiếp tục trả anh H số tiền 07 triệu đồng
Bị cáo Lê Văn H công nhận nội dung bản cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát là đúng hành vi bị cáo thực hiện. Bị cáo xác nhận có tội, không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; Căn cứ lời khai của bị hại, người làm chứng; Bản kết luận định giá trong tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 08/3/2020, tại quán game số 127 phố Lê Thanh Nghị, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Lê Văn H đã lợi dụng sơ hở của anh Nguyễn Thanh T, lén lút chiếm đoạt chiếc ba lô của anh T. Trong ba lô có các tài sản: Số tiền 10 triệu đồng; 01 chiếc đồng hồ App Watch sezi4, màu đen; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Pro 2018, màu ghi xám; 01 túi đựng laptop màu xám, đã qua sử dụng. Tổng giá trị tài sản Hùng chiếm đoạt là: 38.100.000đ( Ba mươi tám triệu một trăm nghìn đồng).
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Lê Văn Hùng là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy, bị cáo phạm tội do nảy lòng tham nhất thời, nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Tuy nhiên số tiền bị cáo chiếm đoạt có giá trị lớn, bị cáo không khắc phục được thiệt hại về tài sản, nên cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với loại tội phạm trộm cắp tài sản.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đề nghị xét xử bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo nghề nghiệp không ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Biện pháp tư pháp: - Đối với yêu cầu buộc bị cáo phải trả lại số tiền 10 triệu đồng của anh Nguyễn Thanh T: yêu cầu của anh T là chính đáng, phù hợp với quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự, nên trả lại anh T số tiền 10 triệu đồng( được trích từ số tiền 15 triệu đồng tại Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 19/5/2020).
- Đối với yêu cầu buộc bị cáo bồi thường số tiền 12 triệu đồng của anh Trần Xuân H: xét thấy anh Hạnh khi mua chiếc máy tính xách tay của bị cáo, không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Vì vậy khi tài sản được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho anh Hạnh số tiền 12 triệu đồng. Do số tiền thu giữ của bị cáo có 15 triệu đồng(Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 19/5/2020), trong đó đã trả lại cho anh T 10 triệu đồng. Số tiền 05 triệu đồng được trả lại cho anh H. Buộc bị cáo tiếp tục phải có nghĩa vụ trả cho anh Trần Xuân H số tiền 07 triệu đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, 350.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho anh Trần Xuân H; theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo, Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Xử phạt Lê Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 09/3/2020.
Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Về dân sự: Trả lại cho anh Nguyễn Thanh T 10 triệu đồng( được trích từ số tiền 15 triệu đồng thu giữ của bị cáo tại Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 19/5/2020).
Trả lại cho anh Trần Xuân H số tiền 05 triệu đồng( được trích từ số tiền 15 triệu đồng thu giữ của bị cáo tại Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 19/5/2020).
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Trần Xuân H số tiền 07 triệu đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 350.000đ( Ba trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; -VKSND Q. Hai Bà Trưng; - THA Q. Hai Bà Trưng; - Công an Q. Hai Bà Trưng; - Bị cáo;Bị hại; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Liên Sơn |