- Tranh chấp gì? án hình sự — "TVT - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! ! TỈNH!THANH!HÓA! ! ! Bản án số: 159/2020/HSPT. Ngày: 04/6/2020. NHÂN!DANH! NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! |
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!THANH!HÓA!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
!
Thẩm"phán"chủ"tọa"phiên"tòa:!Bà Lê Thị Dung "
Thẩm"phán:"""""""""""""""""""""""""""""Bà Lê Thu Hương
Bà Lê Thi Hiệu
Thư"ký"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"tỉnh"Thanh"Hóa"tham"gia"phiên"tòa: Ông Nguyễn Hữu Đức – Kiểm sát viên
Ngày 04/6/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ TTL số 87/2020/HSPT ngày 16/4/2020 đối với bị cáo TVT do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HSST ngày 28/02/2020!của TAND huyện ĐS, Thanh Hóa.
Bị!cáo!kháng!cáo: TVT – Sinh năm 1969; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn KS, xã ĐT, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 05/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông TVC (đã chết) và bà LTG (đã chết); Có vợ là NTN và có 02 con; Tiền án, tiền sự : Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Người!bị!hại: Anh TND. Có mặt TQ: 05/38 TL 1, phường HR, thành phố Thanh Hóa
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 06h 30 phút ngày 18/7/2019 bà TTL đi cùng cháu ngoại là TQM từ nhà vợ chồng con gái là DTTM và TND ở phường HR, thành phố Thanh Hóa về nhà mình tại thôn KS, xã ĐT, huyện ĐS, để đo đạc lại diện tích đất đai đang tranh chấp với nhà TVT (em trai bà TTL). Đến khoảng 09h khi cán bộ địa chính xã ĐT cùng đoàn công tác đến để đo đạc diện tích đất đang tranh chấp thì TVT to tiếng, chửi bới bà TTLvà không thống nhất về mốc giới, nên đoàn công tác không tiến hành đo đạc được đất và ra về. Sau khi đoàn công tác ra về thì vợ chồng anh TND, chị DTTM (con gái bà TTL) đi xe máy lên nhà bà TTL nhìn thấy TVT vẫn đang tiếp tục chửi bới bà TTL. Chị DTTM đi đến sân nhà bà TTL nhìn thấy sọt bát nhà TVT đang để trên giường của nhà TVT (Chiếc giường đang kê giữa ranh giới của khu vực đất đang tranh chấp ở trước sân nhà bà TTL và nhà TVT), nên chị DTTM xách sọt bát định đặt qua sân nhà TVT, khi đang bê sọt bát trên tay thì TVT cầm 02 nửa viên gạch đang để ở sân ném vào chân chị DTTM, làm chị DTTM khụy xuống và rơi sọt bát xuống sân. Lúc này cháu TQM và anh TND chạy lại và anh TND nói “ ông làm cái gì thế, sao ông không đánh bằng vai phải lứa với ông mà lại đánh đàn bà”, đồng thời anh TND cầm 01 cái thớt đang để trên giường ném lại TVT nhưng không trúng. Lúc này TVT chạy đi lấy 01 đoạn sắt khoảng hơn 01 m (sắt do nhà TVT đang làm nhà nên thợ cắt sắt ra từng đoạn) và cầm trong tay, anh TND thấy vậy cũng chạy lại phía chái nhà TVT lấy 01 đoạn gậy tre có đính hai thanh sắt chạy lại chỗ TVT thì được mọi người can ngăn. Lúc này có ông Nguyễn Thế Gạo và một số người đang làm thợ xây nhà cho TVT chạy từ khu vực đang xây dựng xuống can ngăn và ông Gạo đã giật chiếc gậy trên tay TND đem cất đi, thì TVT cũng vứt đoạn sắt xuống sân, đồng thời TVT chạy vào khu vực hè nhà lấy 01 điều cày bọc nhôm màu trắng chạy quay lại đập vào mũi anh TND làm anh TND bị thương rồi ngất ngã xuống sân, sau đó TVT lại tiếp tục cầm gạch để đánh vào người anh TND, nhưng được bà TTL, cháu TQM và một số thợ xây chạy đến can ngăn, sau đó cháu TQM đưa anh TND đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa Khoa Phúc Thịnh, thành phố Thanh Hóa đến ngày 26/7/2019 ra viện.!
Ngày 05/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐS đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 72 và 75/CSĐT để yêu cầu trưng cầu giám định tỉ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe và cơ chế hình thành thương tích cho anh TND.
Tại"bản"kết"luận"giám"định"pháp"y"số"452/2019/TTPY"ngày"12/8/2019"của" Trung"tâm"giám"định"pháp"y"tỉnh"Thanh"Hóa"kết"luận: Anh TND gãy xương chính mũi tỉ lệ tổn hại sức khỏe 09%. Sẹo thương và sẹo mổ xử TTL vết thương vùng giữa tháp mũi, số lượng sẹo ít tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 3%. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 12%.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 453/2019/TTPY ngày 12/8/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Vùng cánh mũi, sống mũi bên trái của anh TND có một vết thương hình vòng cung bờ nham nhở. Kiểm tra có lộ sụn cánh mũi bên trái do tác dụng của ngoại lực, tạo nên bởi vật tày có cạnh gây tổn thương rách da, cơ mô mềm, làm gãy xương chính mũi và chảy máu hốc mũi hai bên. Tại thời điểm giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích không đủ chứng cứ khoa học và các dự liệu khách quan để xác định chính xác chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
Quá trình điều tra: Một số lời khai người làm chứng khai: TVA và TVB có tham gia đánh TND, nhưng qua đối chất các đối tượng này không thừa nhận việc đánh TND. Mặt khác quá trình điều tra đã xác định được TND chỉ có 01 vết thương tại sống mũi do TVT dùng điếu cày gây ra. Do đó không có căn cứ để xử lý TVA và TVB về hành vi gây thương tích.
Chị DTTM (Vợ anh TND) và cháu TQM (Con anh TND) đều khai: Sau khi sảy ra sự việc thì chị DTTM và cháu TQM có bị thương tích nhẹ, không phải đi điều trị ở cơ sở y tế. Họ đều từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường.
Tại! bản! án! hình! sự! sơ! thẩm! số! 05/2020/HSST! ngày28/02/2020! của! TAND!huyện!ĐS,!Thanh!Hóa!đã!quyết!định:
Căn!cứ: Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điều 38; Khoản 2 Điều 51 của BLHS; Khoản 1 Điều 584; Điều 590; Khoản 2 Điều 357, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 1, điểm c Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14. !!!!!!!!Xử!phạt: TVT 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử TTL vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 11/3/2020, bị cáo TVT có đơn kháng cáo cho rằng hành vi của mình là tự vệ chứ không có tội, kết luận giám định không khách quan, hình phạt 27 tháng tù là quá nặng vì nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo. Đề nghị phúc thẩm xem xét lại và hủy bản án sơ thẩm số 05/2020/HSST ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện ĐS để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.
* Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm:"Bị cáo TVT giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo TVT giữ nguyên hình phạt của bị cáo.
!!!!!!NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt, nhưng xét thấy việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX xét xử vắng mặt bị cáo theo Điểm d Khoản 2 Điều 290 BLTTHS. !!!!!!!!!![2]!Xét!kháng!cáo!của!bị!cáo!thấy!rằng:!
Bị cáo cho rằng, sáng ngày 18/7/2019 khi cán bộ địa chính xã và đoàn công tác đênns để đo đạc lại diện tích đất đang tranh chấp giữa bị cáo và chị gái bị cáo là bà TTL có xảy ra cãi nhau, chị DTTM (con gái bà TTL) có bê sọt bát vứt sang bên nhà bị cáo làm vỡ bát, nên bị cáo có lấy gạch ném vào chị DTTM thì anh TND chạy lại chái nhà bị cáo lấy một chiếc gậy có đính hai thanh sắt lao vào định đâm bị cáo, lúc này một tay bị cáo giằng nhau chiếc gậy với anh TND, một tay đang sẵn cầm chiếc điếu cày nên bị cáo đã đã dùng điều cày đập vào mặt anh TND để tự vệ. Sau khi anh TND bị thương nằm xuống sân bị cáo tiếp tục cầm gạch để đánh anh TND thì được mọi người can ngăn và lúc này mới có người lấy chiếc gậy trong tay anh TND đem đi cất.
Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng thể hiện: Khi chị DTTM đang bê sọt bát của gia đình bị cáo thì bị cáo cầm gạch ném vào chân chị DTTM làm chị DTTM khụy xuống, làm sọt bát rơi xuống sân và khi bị cáo đang cầm 01 đoạn sắt trong tay thì anh TND cầm gậy chạy lại nơi bị cáo đang đứng, do đó giữa bị cáo với anh TND giằng nhau chiếc gậy (lúc này trong tay bị cáo không có điều cày), được mọi người can ngăn lấy gậy cất đi (lúc này trong tay anh TND không còn vật gì) thì bị cáo mới vứt thanh sắt xuống sân và tiếp tục chạy vào hè cầm chiếc điều cày chạy ra sân và đánh vào mặt anh TND làm anh TND bị thương nằm xuống sân, khi anh TND đã bị thương nằm xuống sân bị cáo lại tiếp tục nhặt gạch lao vào đánh anh TND, được mọi người can ngăn thì sự việc mới dừng lại. Kết quả giám định anh TND tổn hại sức khỏe là 12%.
Quá trình điều tra, bị cáo cũng thừa nhận hành vi có dùng điếu cày đánh vào mặt anh TND, sau khi anh TND ngất ngã xuống bị cáo vẫn tiếp tục đánh anh TND và bị cáo cũng thừa nhận tất cả các vết thương trên người anh TND là do bị cáo đánh. Vì vậy căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các tình tiết đã được thẩm vấn công khai, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo TVT có đủ dấu hiệu cầu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Bị cáo cho rằng tỷ lệ thương tích của bị hại không khách quan, nhưng bị cáo cũng không có căn cứ nào chứng TQM việc giám định thương tích của cơ quan giám định là không đúng pháp luật, nên không có cơ sở chấp nhận giám định lại thương tích cho bị hại.
Do đó, kháng cáo của bị cáo đề nghị xem xét lại và hủy bản án sơ thẩm số 05/2020/HSST ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện ĐS là không có cơ sở để chấp nhận.
Trong nội dung kháng cáo, bị cáo còn cho rằng mức án sơ thẩm xử nặng. Xét thấy tuy bị cáo không thừa nhận tội, nhưng vẫn thành khẩn khai nhận hành vi gây thương tích cho anh TND nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết theo điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Ở phiên tòa phúc thẩm người bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 điều 51 BLHS, nên chấp nhận giảm cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
![3]! Án!phí: Kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo TVT không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị toà không xem xét.
Vì các lẽ trên
Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 290; Điểm b Khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.
QUYẾTĐỊNH!
1, Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo TVT. Sửa án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo. !
Căn!cứ: Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản TTL và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
!Xử!phạt: TVT 24 ( Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2, Án!phí: Bị cáo TVT không phải nộp án phí HSPT.
3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.!!
!!!!!!!!!
| Nơi nhận: -VKSND"tỉnh"Thanh"Hóa"""""" -VKSND"huyện"ĐS -TAND"huyện"ĐS -Công"an"huyện"ĐS -THADS"huyện"ĐS -Bị"cáo,"bị"hại" -Lưu"hồ"sơ"vụ"án"""" -Lưu"VP"Toà"Hình"sự."""""""""""""""""! ! ! ! ! ! ! ! | Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!toà" !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Lê!Thị!Dung! |