- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Cẩm T-Trầm Minh G"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 159/2020/HNGĐ-ST Ngày 04 - 12 - 2020 Về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Chúc
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Khởi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc:“Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1980 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Ô C, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Trầm Minh G, sinh năm 1971 (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Ô C, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2020, đơn xin giải quyết vắng mặt và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T trình bày: Vào năm 1999, chị và anh G có tìm hiểu quen biết và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Quá trình sống chung có 01 người con chung tên Trầm Hưng T, sinh ngày 07/12/2003. Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Sau khi kết hôn 02 vợ chồng sống nhà anh G tại ấp Ô Chích B, Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu sinh sống rất hạnh phúc, vợ chồng luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đến thời gian sau này, hai vợ chồng cùng nhau lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn sinh sống. Khoảng 02 năm gần đây, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do anh G thường xuyên tham gia cá độ, đá gà không còn chăm lo cho cuộc sống gia đình, chị có khuyên nhưng anh G không nghe mà dọn đồ bỏ nhà đi.
Nay chị không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với anh G được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trầm Minh G.
Về con chung: Chị yêu cầu nuôi dưỡng 01 người con chung, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 05/11/2020 và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 05/11/2020, anh Trầm Minh G là bị đơn trình bày: Về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung thì anh Trầm Minh G thống nhất như lời trình bày của chị Nguyễn Thị Cẩm T. Quá trình sống chung với chị T, hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẩn do bất dồng ý kiến. Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Hai vợ chồng có 01 người con chung tên Trầm Hưng T, sinh ngày 07/12/2003, theo ý nguyện của con muốn theo ai thì người đó nuôi, nếu con theo anh thì anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, con theo chị T thì anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/11/2020 của em Trầm Hưng T: Khi cha mẹ ly hôn, em tự nguyện sống với mẹ.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Chị Nguyễn Thị Cẩm T, anh Trầm Minh G và em Trầm Hưng T có đơn xin giải quyết vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh G, em T theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220, 239, 240, 243, 247, 249, 250 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm T. Cho chị T được ly hôn với anh G, giao con chung tên Trầm Hưng T, sinh ngày 07/12/2003 cho chị T nuôi dưỡng (Theo ý muốn của em T muốn sống cùng chị T). Chị Nguyễn Thị Cẩm T có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh Trầm Minh G có nơi cư trú tại Ấp Ô C, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Xét thấy, chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trầm Minh G tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 1999, đến năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
[3] Về hôn nhân: Quá trình chung sống với nhau giữa chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trầm Minh G thời gian đầu hạnh phúc nhưng khoảng 02 năm trở lại đây thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, anh Linh thường xuyên tham gia cá độ, đá gà và những cuộc vui chơi khác nên không còn chăm lo cho cuộc sống gia đình. Đối với anh G cũng thừa nhận cuộc sống hôn nhân với chị T xảy ra mâu thuẩn nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của anh Linh và chị T không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trầm Minh G ly hôn là có cơ sở.
[5] Con chung: 01 người con chung Trầm Hưng T, sinh ngày 07/12/2003 có nguyện vọng sống chung với chị Nguyễn Thị Cẩm T nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Cẩm T không có yêu cầu anh Trầm Minh G cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trầm Minh G khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[8] Án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm T chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm T. Cho chị Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với anh Trầm Minh G.
Con chung: Giao con chung Trầm Hưng T, sinh ngày 07/12/2003 cho chị Nguyễn Thị Cẩm T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Cẩm T không có yêu cầu anh Trầm Minh G cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Anh Trầm Minh G có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trầm Minh G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm T chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai số 0001418 ngày 26/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, chị Nguyễn Thị Cẩm T không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - UBND xã Lương Hòa; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Sơn Thị Hồng Nhân |