vanban.org

Bản án 159/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị NTHX được ly hôn với anh ĐHP.

Về con chung: Giao hai con chung tên ĐTN, sinh ngày 11/6/2014 và ĐĐK, sinh ngày 12/11/2015 cho anh ĐHP trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng cho con: Anh Phong không có ý kiến việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị NTHX được ly hôn với anh ĐHP.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 159/2020/HNGĐ-ST
Ngày : 26 – 3 – 2020
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Giữ

2. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 577/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2020/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị NTHX, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ 14, Ấp TH, xã TMT, huyện CP, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: Tổ 9, Ấp B, xã CH, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh ĐHP, sinh năm 1990. Địa chỉ cư trú: Tổ 14, Ấp TH, xã TMT, huyện CP, tỉnh An Giang (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 8 năm 2019, nguyên đơn chị Xuân trình bày như sau: Chị Xuân và anh Phong tìm hiểu, yêu thương nhau, tổ chức lễ cưới năm 2013, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Mỹ Tây. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2018 xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã ly thân đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên chị Xuân yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh ĐHP. Về con chung: Thời gian chung sống có hai con chung tên ĐTN, sinh ngày 11/6/2014 và ĐĐK, sinh ngày 12/11/2015. Về tài sản chung: Không có; nợ chung: Không có.

- Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Phong nhưng anh Phong không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị Xuân.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Xuân: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Phong: Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được được công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong thời hạn chuẩn bị xét xử và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai là tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Chị Xuân và anh Phong chung sống, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Phong được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến về hôn nhân. Từ khi chị Xuân nộp đơn ly hôn đến nay vợ chồng không tạo điều kiện cho nhau để đoàn tụ, anh Phong không quan tâm cuộc sống vợ chồng, theo biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn cho thấy giữa chị Xuân và anh Phong có mâu thuẫn nên dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Xuân.

+ Về con chung: Thời gian chung sống có hai con chung tên ĐTN, sinh ngày 11/6/2014 và ĐĐK, sinh ngày 12/11/2015, chị Xuân đồng ý giao hai con chung cho anh Phong trực tiếp nuôi, không tranh chấp về việc nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung cho anh Phong trực tiếp nuôi, anh Phong không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

+ Về tài sản chung: Không có; về nợ chung: Không có. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phong vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 14, Ấp TH, xã TMT, huyện CP, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phong đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

+ Chị Xuân và anh Phong chung sống, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, chị Xuân trình bày vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng về sau có nhiều mâu thuẫn, tháng 10 năm 2018 đã ly thân đến nay. Hội đồng xét xử nhận định, trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, anh Phong không đến Tòa án trình bày ý kiến về hôn nhân, không quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Thời hạn chuẩn bị xét xử, chị Xuân xác định đã ly thân từ năm 2018 đến nay không thể đoàn tụ. Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn được ông Nguyễn Thanh Tuấn là cha ruột của anh Phong cung cấp thông tin là giữa anh Phong và chị Xuân có xảy ra mâu thuẫn, đã được gia đình động viên nhưng vợ chồng không đoàn tụ. Chị Xuân có đơn xin xử vắng mặt và trong thời hạn chuẩn bị xét xử chị Xuân vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Xuân và anh Phong không thể tiếp tục chung sống, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Xuân.

+ Về con chung: Thời gian chung sống, chị Xuân và anh Phong có hai con chung tên ĐTN, sinh ngày 11/6/2014 và ĐĐK, sinh ngày 12/11/2015, hai con chung do anh Phong trực tiếp nuôi. Quá trình chuẩn bị xét xử, chị Xuân đồng ý giao hai con chung cho anh Phong trực tiếp nuôi, không tranh chấp về việc nuôi con. Để đảm bảo ổn định cho hai con chung của anh Phong và chị Xuân, Hội đồng xét xử giao hai con chung cho anh Phong trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, do anh Phong không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Nếu anh Phong có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Xuân phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2017/0005616 ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị NTHX được ly hôn với anh ĐHP.

- Về con chung: Giao hai con chung tên ĐTN, sinh ngày 11/6/2014 và ĐĐK, sinh ngày 12/11/2015 cho anh ĐHP trực tiếp nuôi.

+ Về cấp dưỡng cho con: Anh Phong không có ý kiến việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Anh Phong cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Xuân thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không.

- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Xuân phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2017/0005616 ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ