vanban.org

Bản án 159/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thanh Th về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cháu Trương Đoàn Minh A, sinh ngày 06/11/2010 cho chị Đoàn Thanh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Th - Ông T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thanh Th về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 08-12-2020
V/v tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- A phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Út.

2. Bà Trần Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Vào ngày 08 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 512/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thanh Th, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Trương Bảo T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh T.

Chị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/10/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Th trình bày: Chị với anh T đã ly hôn theo Bản án số 22/202/HNGĐ-ST ngày 20/4/2020. Theo quyết định của bản án về phần con chung, giao cháu Trương Đoàn Phương Q, sinh ngày 21/12/2002 và cháu Trương Đoàn Minh A, sinh ngày 06/11/2010 cho anh T trược tiếp nuôi dưỡng, chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Trương Đoàn Thảo N, sinh ngày 28/11/2000, đã A niên và lao động được nên Tòa án không giải quyết. Chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, anh T không quan T chăm sóc cháu Trương Đoàn Minh A mà giao cho con gái lớn của chị là Trương Đoàn Thảo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên làm ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của cháu A rất nhiều.

Do anh T không nuôi dưỡng và chăm sóc cho cháu A nên hiện nay chị đã rước cháu A về nhà của chị để chăm sóc, nuôi dưỡng.

Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cháu Trương Đoàn Minh A, sinh ngày 06/11/2010 cho chị trược tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Chị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Th và anh T theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu A sau khi ly hôn của chị Th, thấy rằng:

Khi ly hôn, anh T được giao trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A. Tuy nhiên sau khi ly hôn, anh T đã giao cháu A cho Trương Đoàn Thảo N nuôi dưỡng là vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình. Điều đó chứng minh rằng, anh T không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Mặt khác, hiện nay cháu A do chị Th nuôi dưỡng và cháu A đã trên 7 tuổi và nguyện vọng muốn sống với chị Th. Hơn nữa, anh T cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu A của chị Th nên theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

Từ những phân tích trên và xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của cháu A, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Th, giao cháu A cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Xét, chị Th không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu A nên Hội đồng xét xử không giải quyết nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thanh Th về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

2. Giao cháu Trương Đoàn Minh A, sinh ngày 06/11/2010 cho chị Đoàn Thanh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Án phí: Anh Trương Bảo T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trả lại cho chị Đoàn Thanh Th 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0006049 ngày 27/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

4. Chị Th, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ