- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136, khoản 1 Điều 292, Điều 293, Điều 331 và
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 159/2018/HS-ST Ngày 30/ 11 / 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
n
r n N o n – Chủ tịch Hội Khuyến H c phườn ôn Xuyên;
N uy n h y un – Hiệu Trưởn rường THCS Nguy n Trãi, thành
phố Long Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang tham gia phiên tòa: hạm u nh N c h - K ểm sát v ên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2018/TLST-
HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đư vụ án ra xét xử số:
141/2018/Q XXS -HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
N ô Văn , sinh năm 1982, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Nơ cư trú: khóm 6, phường X, thành phố L, An Giang; nghề nghiệp: không;
trình độ văn hó (h c vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo
Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông N ô Văn M và bà Nguy n Thị T; chung
sốn như vợ chồng với Lưu hị Bé L, có 03 n ười con, lớn nhất s nh năm 2005,
nhỏ nhất s nh năm 2010.
- Tiền án: có 3 tiền án
+ Ngày 15/11/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt
02 năm t về tộ “ rộm cắp tài sản”, đến ngày 27/9/2012 thì chấp hành xong
hình phạt tù.
+ Ngày 08/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 03
năm t về tộ “ rộm cắp tài sản”, đến ngày 18/12/2015 chấp hành xong hình
phạt tù.
+ Ngày 18/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm t về tộ “ rộm cắp tài sản”, đến ngày 09/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Chư .
Bị can bị tạm giam từ ngày 10/8/2018, có mặt.
Bị hại:
- Ông Hu nh Thanh P, s nh năm 1991 (vắng mặt).
ịa chỉ: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Anh Nguy n Văn N, s nh năm 2001 (vắng mặt).
ịa chỉ: khóm 5, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
N ườ đại diện hợp pháp của anh Nguy n Văn N: ông Nguy n Văn N,
s nh năm 1980 l ch ruột của ông Nguy n Văn N; ịa chỉ: khóm 5, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Ông ặng Quốc H, s nh năm 1998 (vắng mặt).
ịa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Nguy n Văn V, s nh năm 1996 (vắng mặt).
ịa chỉ: ấp 2, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như s u:
Khoảng 23 giờ n y 09 thán 8 năm 2018, N ô Văn cùng nhóm bạn
đến quán k r oke S m trên đường Hà Hoàng Hổ, phường ôn Xuyên, thành phố Long Xuyên uốn
v hát k r oke. S u đó, ngủ lại phòng karaoke, nhữn n ười còn lại ra về. ến khoảng 07 giờ 30 phút n y 10 thán 8 năm 2018, T ra về, kh đến gần quầy tính tiền thấy ông Hu nh Thanh P và Nguy n Văn N đ n n ủ trên ghế nên T g i ông P, N mở cửa cho T ra về nhưn h nh không thức. Lúc này, T thấy túi quần của ông P và N có tiền, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý đồ này, T đến móc túi quần của anh Nguy n Văn N lấy trộm 700.000 đồng và móc túi quần của ông Hu nh Thanh P lấy cái bóp lục lấy trộm 1.450.000 đồn để vào bóp của T. S u đó, lấy chùm chìa khóa móc trên quần của ông P mở cửa ra về. ến khoảng 08 giờ n y 10 thán 8 năm 2018, ông P, N phát hiện bị mất tiền nên mở camera an ninh phát hiện T lấy trộm nên đ tìm . Kh đến đườn h n ôn, phườn ôn Xuyên thì ông P, N thấy T đ n n ồi trong quán cà phê Cây Sứ. Thấy ông P và N đến quán cà phê thì T bỏ chạy nên h nh đuổi theo yêu cầu T về quán k r oke S m v đ ện báo cho Công an phường ôn Xuyên ết. Tại quán karaoke, Tý trả lại cho ông P 1.450.000đồng. S u đó giao trả lại cho anh N 700.000đồng
ến 17 giờ n y 10 thán 8 năm 2018, N ô Văn bị Cơ qu n Cảnh sát
đ ều tra Công an thành phố Long Xuyên bắt khẩn cấp.
Lời khai của người bị hại, người làm chứng:
Ông Hu nh Thanh P, anh Nguy n Văn N trình bày phù hợp với nội dung
vụ án đã nêu. Ông P đã nhận lạ 1.450.000 đồng, anh N đã nhận lại 700.000
đồng nên không yêu cầu bồ thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2018, V ện kiểm sát
nhân dân thành phố Lon Xuyên đã truy tố bị cáo N ô Văn về tộ “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại đ ểm g khoản 2 ều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tộ như nội dung Cáo
trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát
viên, xin Hộ đồng xét xử xử phạt nhẹ.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Theo lời nhận tội của bị cáo trong
giai đoạn đ ều tra, truy tố; lời khai của bị cáo T tại phiên tòa và các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định, bị cáo T đã ị kết án về
tội “ rộm cắp tài sản” nhưn chư được xóa án tích, đã tá phạm, nay lại tiếp tục
phạm tội là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu
thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại đ ểm g khoản 2 ều 173 Bộ luật
Hình sự năm 2015. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Long Xuyên truy tố bị cáo l đún n ười, đún tộ , đún pháp luật.
Hành vi của bị cáo T xâm phạm quyền sở hữu tài sản củ n ười khác
được pháp luật bảo vệ, còn gây mất trật tự trị an tạ đị phươn nên đề nghị xử
phạt bị cáo T một hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo để
đảm bảo mục đích răn đe, áo dục và phòng ngừa chung.
uy nh ên, tron quá trình đ ều tr cũn như tại phiên tòa, bị cáo T đã
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cho nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị
cáo T kh lượng hình.
ề nghị Hộ đồng xét xử áp dụng đ ểm g khoản 2 khoản ều 173, đ ểm s
khoản 1 ều 51, iều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo T từ 02
năm 06 thán đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông P và anh N đã nhận lại tài sản và không
yêu cầu bị cáo phải bồ thường nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
rên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hộ đồng xét xử nhận định như s u:
Về hành vi, quyết định củ cơ qu n t ến hành tố tụn , n ười tiến hành
tố tụn , tron quá trình đ ều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng
củ Cơ qu n đ ều tra Công an thành phố Lon Xuyên, ều tra viên, Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát v ên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình đ ều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nhữn n ười tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng củ cơ qu n t ến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn . o đó, các quyết định, hành vi tố tụn do Cơ qu n đ ều tr , ều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đún quy định của pháp luật.
ối vớ n ười tham gia tố tụng:
Bị hại ông Hu nh Thanh P, anh Nguy n Văn N v n ườ đạ d ện hợp
pháp củ anh N; N ười làm chứng ông ặng Quốc H, ông Nguy n Văn V đã được Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên triệu tập hợp lệ nhưn vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hộ đồng xét xử xét thấy, bị hại và n ười làm chứng nêu trên đã trình y rõ lời khai của h tạ
đoạn đ ều tra nên việc vắng mặt của h tại phiên tòa không làm ảnh hưởn đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hộ đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 ều 292, ều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi của bị cáo thể hiện như s u:
Bị cáo T đã kh nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản v o n y
10/8/2018. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai do chính bị cáo đã kh tron
đoạn đ ều tra; phù hợp với lời khai củ n ười bị hại, n ười làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định bị cáo đã lợi dụng lúc ông P và anh N ngủ say đã lén lút lấy trộm tài sản của ông P và anh N, cụ thể móc túi quần của anh Nguy n Văn N lấy trộm 700.000 đồng và móc túi quần của ông Hu nh Thanh P lấy cái bóp lục lấy trộm 1.450.000 đồn để vào bóp của bị cáo T. Căn cứ quy định pháp luật, hành vi của bị cáo T đã phạm tội “ rộm cắp tài sản”, do bị cáo đã tá phạm nay lại tiếp tục phạm tội mới nên bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại đ ểm g khoản 2 ều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo l n ườ trưởng thành, có đầy đủ năn lực chịu trách nhiệm hình
sự, nhận thức được việc làm bản thân, biết được việc làm củ mình đún h y sai. Lẽ ra, sau nhiều lần bị kết án về tộ “ rộm cắp tài sản” thì phải biết sống lươn th ện, hòa nhập cộn đồng bằng việc cố gắng tìm kiếm cho mình một công việc phù hợp để tạo thu nhập chính đán nuô sống bản thân, phụ giúp gia đình v sống có ích cho xã hội. Thế nhưn , do có lòn th m, vì muốn có tiền tiêu xài không phả l o động nặng nh c, cũn như đáp ứng nhu cầu cá nhân của bản thân, nên bị cáo đã cố ý tái phạm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hộ , đã xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản củ n ười khác được pháp luật bảo vệ, ây tác động xấu đến an ninh trật tự tạ đị phươn . o đó, cần xử phạt bị cáo một mức án n h êm khắc về hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, áo dục và phòng ngừa chung.
Xét đề nghị củ ại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long
Xuyên áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một
thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt l có căn cứ,
phù hợp với hành vi phạm tội.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 03 tiền án đều về tộ “ rộm cắp tài
sản”. Ngoài ra ngày 28/9/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử
phạt 09 tháng tù về tộ “ rộm cắp tài sản” (ch ếm đoạt tài sản dưới 2.000.000
đồng). Ngày18/9/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01
năm 06 thán t về tộ “ rộm cắp tài sản” (ch ếm đoạt tài sản dưới 2.000.000
đồng). ều đó cho thấy ị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử n h êm đối với
bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở th nh n ười tốt, đồng thời góp phần vào
việc phòng chống tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tron quá trình đ ều tr cũn như tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã tỏ rõ
thá độ thành khẩn kh áo. ây l các tình t ết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
được quy định tạ các đ ểm s khoản 1 ều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì
vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo kh lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình đ ều tra, bị hại là ông Hu nh Thanh
P và anh Nguy n Văn N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi
thường nên Hộ đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án
phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T, bị hại có quyền khán cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình
sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38
Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136, khoản 1 Điều 292, Điều 293, Điều 331 và
Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo N ô Văn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: N ô Văn : 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2018 (ngày mười tháng tám năm hai nghìn
không trăm mười tám).
2. Về trách nhiệm dân sự: không.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo N ô Văn phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo N ô Văn có quyền
khán cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Hu nh Thanh P, anh Nguy n Văn N v
ôn N uy n Văn N n ườ đạ d ện hợp pháp củ anh N là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Long Xuyên; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở ư pháp; - Nhà Tạm giữ Công an TP. Long Xuyên; - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên; - CQ Côn n . Lon Xuyên; - Chi cục THADS TP. Long Xuyên; - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơ C cư trú; - Bị cáo; - ươn sự và n ườ đại diện hợp pháp của đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòn . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Minh Châu |