vanban.org

Bản án 158/2026/DS-PT — Dân sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thiện L; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 591/2025/HS-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm hình sự, như sau:

Xử phạt bị cáo Trần Thiện L 11 (mười một năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 28/05/2024. 2/Những quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Trần Thiện L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? 1/Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thiện L; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 591/2025/HS-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm hình sự, như sau:
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ản án số: 158/2026/HS-PT
Ngày: 10/03/2026

TÒA PHÚC THẨM-TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán:

ông Vũ Ngọc Huynh;

bà Hồ Thị Thanh Thúy.

-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lụa, Thẩm tra viên Tòa Phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

-Đại diện Viện công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Ngọc Đ, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 364/2025/TLPT - HS ngày 17/10/2025 đối với bị cáo Trần Thiện L;

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 591/2025/HS-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Thiện L, sinh năm 1969 tại Quảng Ngãi;

Nơi đăng ký thường trú: 70/23/7 Đô Đốc L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là 70/23/7 Đô Đốc L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; là con của ông Trần C (đã ch t và bà Nguyễn Thị Thanh M; bị cáo có vợ và có 02 người con (người con lớn sinh năm 2001, người con nhỏ sinh năm 2006 ;

Tiền án, tiền sự: không;

ị b t, tạm giam ngày 28/05/2024 (có m t tại phiên toà .

Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Tạ Thanh P, Đoàn Luật sư Thành phố H (có m t .

(Trong vụ án này, còn có người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, nhưng họ không có kháng cáo; Tòa án không triệu tập .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thiện L quen bi t với bà Võ Thị Mỹ D (bởi vì cùng học phổ thông cấp 3 tại tỉnh Quảng Ngãi . Sau đó, cả hai người đều lập gia đình và chuyển đ n Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống.

Đ n năm 2018, L bi t tin bà D đã ly hôn, đang sinh sống cùng với con gái (là chị Nguyễn Quỳnh T tại số A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh , nên chủ động liên lạc và sau đó, cả hai người có mối quan hệ tình cảm với nhau. Đ n năm 2022, do thi u nợ nhiều người và bi t bà D có ý định mua đất ở tỉnh Quảng Ngãi (để sau này chuyển về quê sinh sống , L nảy sinh ý định chi m đoạt tiền (của bà D để tiêu xài và trả nợ.

Để thực hiện ý định của mình, L nói dối rằng được thừa k 01 mảnh đất, loại đất nông nghiệp, diện tích là 11m x 24m tại xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, đang nhờ (một người tên C, làm việc ở Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện M, tỉnh Quảng Ngãi làm giấy tờ; L nói rằng n u bà D muốn mua, sẽ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ đứng tên bà D. Nghe nói như vậy, bà D đồng ý và đề nghị làm giấy tờ cho chị Nguyễn Quỳnh T đứng tên.

Vào ngày 08/02/2023, L đ n nhà bà D, đọc cho chị T vi t hợp đồng mua bán đất có nội dung như sau: L đồng ý bán cho chị Nguyễn Quỳnh T lô đất có diện tích 11m x 24m thuộc địa phận xã Đ với giá 500.000.000 đồng. Khi hợp đồng vi t xong, bà D đưa cho L 300.000.000 đồng và thỏa thuận rằng sẽ trả h t 200.000.000 đồng còn lại khi làm xong giấy tờ (đứng tên chị T . Ti p sau đó, L nhiều lần đ n nhà bà D, yêu cầu đưa thêm tiền để làm thủ tục về đất (vào các ngày 15/03/2023, 27/04/2023, 10/05/2023, 16/05/2023, 15/06/2023 . Vì vậy, bà D đã đưa cho L tổng cộng là 420.000.000 đồng.

Đ n ngày 23/06/2023, L nhờ Mai Văn H, đóng giả một người tên là T1 (làm ở Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện M, tỉnh Quảng Ngãi , gọi điện thoại cho bà D và nói rằng đang làm giấy tờ đất tại tỉnh Quảng Ngãi cho L, nhưng chưa xong (để cho bà D tin tưởng . Đ n chiều cùng ngày, L đ n nhà bà D, đề nghị đưa thêm 28.000.000 đồng (để đưa cho T1 làm giấy tờ đất ; tin là thật, bà D đã đưa 28.000.000 đồng cho L.

Trong khoảng thời gian sau đó, cũng với thủ đoạn cần thêm tiền để làm giấy tờ đất, L đã nhiều lần yêu cầu bà D đưa tiền, cụ thể là vào các ngày 15/08/2023, 05/09/2023, 07/09/2023, 12/09/2023 và 24/09/2023; vào những lần này, bà D đưa cho L tổng cộng là 159.000.000 đồng. Sau đó, L ti p tục nhiều lần yêu cầu đưa thêm tiền (cũng với lý do là để làm giấy tờ đất , nên bà D (đã nói với chị T chuyển khoản nhiều lần cho L, tổng số tiền là 136.000.000 đồng.

Đ n ngày 16/05/2024, bà D trình báo sự việc nói trên với Công an phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (bút lục số 36, 37 ; bà D nói rằng tổng số tiền mà L đã chi m đoạt (thông qua việc lừa bán đất , là 743.000.000 đồng; số tiền 12.600.000 đồng (đưa vào ngày 02/03/2022 , là cho L để về quê; số tiền 34.000.000 đồng (đưa vào ngày 03/02/2024 và 50.000.000 đồng (đưa vào ngày 26/2/2024 , là tiền mà L mượn của bà D để chữa bệnh.

Vào ngày 28/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh b t Trần Thiện L để tạm giam (bút lục số 11 . Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Thành phố H, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nói trên và thừa nhận rằng đã dùng h t số tiền chi m đoạt vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng như sau: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max (thu giữ của Mai Văn H và 01 điện thoại di động OPPO (thu giữ của L).

Bà Nguyễn Thị T2 (vợ bị cáo Trần Thiện L đã bồi thường 500.000.000 đồng cho bà D. Vì vậy, bà D không yêu cầu bồi thường thêm và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.

Tại Cáo trạng số 438/CT-VKS-P2 ngày 01/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Thiện Lâm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a Khoản 4 Điều 174 ộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 591/2025/HS-ST ngày 12/09/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử như sau:

-Áp dụng Điểm a Khoản 4 Điều 174; Điều 7; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38; Điều 50 ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Thiện L 11 (mười một năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/05/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 15/9/2025, bị cáo Trần Thiện L có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày yêu cầu kháng cáo như sau:

- ị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày ý ki n như sau:

-Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Thiện L 11 (mười một năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng pháp luật;

- ị cáo kháng cáo để xin giảm hình phạt, nhưng không có tình ti t/chứng cứ gì mới, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày ý ki n như sau:

-Giữa bị cáo và người bị hại có mối quan hệ quen bi t với nhau. Trong tổng số tiền mà bị cáo bị quy k t chi m đoạt (743.000.000 đồng , thì có một phần là do người bị hại cho hẳn bị cáo. Trong quá trình giải quy t vụ án, cơ quan điều tra đã không làm rõ được bao nhiêu là tiền chi m đoạt/bao nhiêu là tiền t ng-cho, nhưng bị cáo vẫn thừa nhận toàn bộ là tiền chi m đoạt;

-Gia đình bị cáo có thửa đất tại Quảng Ngãi (đất cấp cho hộ gia đình ; bị cáo có hộ khẩu tại đó, nên được xem là bị cáo có đất, có thể giao dịch mua-bán với người bị hại, m c dù thủ tục hành chính chưa làm xong;

-Số tiền chi m đoạt được giao làm nhiều lần. Vì vậy, n u đã lấy tổng số tiền để làm căn cứ xác định khung hình hình phạt, thì việc giao-nhận tiền làm nhiều lần sẽ không được xem là tình ti t Phạm tội hai lần trở lên” để tăng n ng trách nhiệm hình sự theo Đ1 g Khoản 1 Điều 52 của ộ luật Hình sự;

-Hiện nay, bị cáo đã trả h t tiền cho người bị hại (gia đình bị cáo trả số tiền 500.000.000 đồng/tổng số tiền chi m đoạt 743.000.000 đồng, nhưng người bị hại không yêu cầu trả thêm .

Với những ý ki n trình bày nói trên, Luật sư cho rằng hình phạt 11 năm tù là quá n ng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do sự quen bi t với bà Võ Thị Mỹ D và dựa vào sự tin tưởng của bà Võ Thị Mỹ D, bị cáo Trần Thiện L đưa ra thông tin không có thật (về việc bị cáo có 01 thửa đất, diện tích là 11 x 24m tại xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi đang muốn bán , để từ đó ký k t hợp đồng mua bán (bằng giấy tay , chi m đoạt tiền từ bà Võ Thị Mỹ D.

K t quả điều tra đã xác định tổng số tiền mà bị cáo đã chi m đoạt (thông qua việc lừa bán đất , là 743.000.000 đồng (bút lục số 75 .

Như vậy, Tòa án có căn cứ để xác định rằng bị cáo Trần Thiện L đã phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", thuộc vào trường hợp "Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên", chi u theo Đ1 a Khoản 4 Điều 174 của ộ luật Hình sự năm 2015. Xét việc bị cáo cho rằng không lừa đảo bà Võ Thị Mỹ D (vì bị cáo có đất để bán và chỉ nhận từ bà Võ Thị Mỹ Duyên S tiền 300.000.000 đồng, là không đúng.

Xét về việc quy t định hình phạt:

Về tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự:

Việc bị cáo chi m đoạt tài sản của bà Võ Thị Mỹ D diễn ra trong nhiều lần, thuộc trường hợp Phạm tội 02 lần trở lên”; đây là tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự chi u theo Đ1 g Khoản 1 Điều 52 của ộ luật Hình sự năm 2015.

Xét về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, giải quy t vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường số tiền chi m đoạt cho người bị hại; người bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 54 của ộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, những tình ti t tăng n ng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 11 năm tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị xét xử ; việc xét xử như vậy là phù hợp với luật định.

ị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có tình ti t, chứng cứ gì mới; Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ pháp luật để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 330; Điều 345; Điều 355 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

1/Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thiện L; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 591/2025/HS-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm hình sự, như sau:

Áp dụng Điểm a Khoản 4 Điều 174; Điều 7; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của ộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 ;

-Xử phạt bị cáo Trần Thiện L 11 (mười một năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 28/05/2024.

2/Những quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3/Về án phí phúc thẩm: bị cáo Trần Thiện L phải chịu 200.000 đồng.

Cỡ chữ