vanban.org

Bản án 158/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Hà Thị Thu H.

Về hôn nhân: Cho chị Hà Thị Thu H được ly hôn với anh Đặng Quang H. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao 03 con chung là Đặng Hà Minh Thư, sinh ngày 10/07/2009; Đặng Thị Minh Thảo, sinh ngày 01/11/2013; Đặng Song Thy, sinh ngày 08/12/2018 cho chị Hà Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Hà Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/4/2025
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và
Gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và ông Trần Mai Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 597/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 03 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 109/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị Thu H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm Thanh Bình, xã Tân An, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Quang H, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm Thanh Bình, xã Tân An, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chị Hà Thị Thu H trình bày:

Chị Hà Thị Thu H và anh Đặng Quang H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân An, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An ngày 12/10/2008. Sau một thời gian chung sống, do tính tình, quan điểm sống của hai người không phù hợp, anh H đi làm việc tại Đài Loan, cuộc sống xa cách nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị làm đơn xin ly hôn với anh Đặng Quang H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Đặng Hà Minh Thư, sinh ngày 10/07/2009; Đặng Thị Minh Thảo, sinh ngày 01/11/2013; Đặng Song Thy, sinh ngày 08/12/2018. Nếu ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao 03 con chung cho chị H nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do bận công việc nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Về phía anh Đặng Quang H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh H theo thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh Đặng Quang H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu ông Đặng Quang Hồng, sinh năm 1944, trú tại xóm Thanh Bình, xã Tân An, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An (bố của anh H) cung cấp địa chỉ của anh H tại nước ngoài. Theo trình bày của bố anh H thì hiện tại anh H đang sinh sống tại Đài Loan, có liên lạc về cho gia đình nhưng anh H không cung cấp địa chỉ cụ thể cho ông Hồng biết; ông Hồng đã thông báo cho anh H biết việc chị H làm đơn ly hôn tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ được quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 234 BLTTDS.

- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, Chị Hà Thị Thu H và anh Đặng Quang H, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân An, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An ngày 12/10/2008 trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân hợp pháp.

Sau một thời gian chung sống, do tính tình, quan điểm sống của hai người không phù hợp, anh H đi làm việc tại Đài Loan, cuộc sống xa cách nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh H nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ cho chị H được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Đặng Hà Minh Thư, sinh ngày 10/07/2009; Đặng Thị Minh Thảo, sinh ngày 01/11/2013; Đặng Song Thy, sinh ngày 08/12/2018. Nếu ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao 03 con chung cho chị H nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không nhận được ý kiến hợp pháp của anh H. Xét thấy:

Hiện nay anh H đang sống và làm việc tại nước ngoài. Nguyên đơn và thân nhân cũng không cung cấp được địa chỉ của anh H ở nước ngoài, nên không có đủ điều kiện nuôi con. Ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi 03 con chung. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung của chị H và anh H cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên miễn xét.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Nguyên đơn pH nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 479 BLTTDS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Căn cứ kết quả trả lời của Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Nghệ An thì anh Đặng Quang H, sinh ngày 25/10/1977 đã xuất cảnh ngày 27/4/2021 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Do anh H trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, theo trình bày của ông Đặng Quang Hồng thì anh H hiện đang lao động ở Hàn Quốc, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể; anh H đã biết việc chị Hương làm đơn ly hôn tại Tòa án. Đến ngày xét xử vụ án anh H không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, anh H đã biết được chị H yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Chị Hà Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Đặng Quang H. Xét thấy, chị Hà Thị Thu H và anh Đặng Quang H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân An, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An ngày 12/10/2008. Sau một thời gian chung sống, do tính tình, quan điểm sống của hai người không phù hợp, anh H đi làm việc tại Đài Loan, cuộc sống xa cách nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Hà Thị Thu H được ly hôn anh Đặng Quang H là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Đặng Hà Minh Thư, sinh ngày 10/07/2009; Đặng Thị Minh Thảo, sinh ngày 01/11/2013; Đặng Song Thy, sinh ngày 08/12/2018, ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay, anh H đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Chị Hà Thị Thu H đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao 03 con chung cho chị Hà Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con, phù hợp nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Dành quyền khởi kiện đòi lại quyền nuôi con sau khi ly hôn cho anh H.

Về cấp dưỡng: Chị Hà Thị Thu H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các dương sự khi có yêu cầu.

Tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị Thu H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Hà Thị Thu H pH chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Hà Thị Thu H.

1. Về hôn nhân: Cho chị Hà Thị Thu H được ly hôn với anh Đặng Quang H.

2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao 03 con chung là Đặng Hà Minh Thư, sinh ngày 10/07/2009; Đặng Thị Minh Thảo, sinh ngày 01/11/2013; Đặng Song Thy, sinh ngày 08/12/2018 cho chị Hà Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Chị Hà Thị Thu H không yêu cầu anh Đặng Quang H cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Hà Thị Thu H pH chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013574 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị Thu H vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Đặng Quang H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ