vanban.org

Bản án 158/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Phương Đ.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Phương Đ được ly hôn với anh Dương Chí Ngh. Về con chung: Giao Dương Ngọc Nh, sinh ngày 09/12/2017 cho chị Nguyễn Phương Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi Ngọc Nh tròn 18 tuổi, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Phương Đan - Dương Chí Nghiệm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Phương Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM D, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27 – 6 – 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM D, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Hồ Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 225/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Tắc V, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Dương Chí Ngh, sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú: Ấp Xóm M, xã Tạ An Khương Đ, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Đ trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

Chị Đ và anh Ngh chung sống năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tắc V, thành phố Cà Mau. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh Ngh không chung thuỷ, đã ly thân khoản 3 năm nay. Chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Ngh.

Quá trình chung sống chị Đ và anh Ngh có 01 con chung tên Dương Ngọc Nh, sinh ngày 09/12/2017, khi ly hôn chị Đ yêu cầu được nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Về tài sản chung và nợ: Chị Đ xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Đối với anh Dương Chí Ngh: Mặc dù đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của chị Đ nhưng anh Ngh không có ý kiến gì và không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Phương Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Dương Chí Ngh đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung: Chị Đ và anh Ngh chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh Ngh không chung thuỷ, đã ly thân khoảng 3 năm nay. Chị Đ xác định tình trạng hôn nhân của anh, chị đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống nên chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Ngh. Anh Ngh không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị Đ.

Xét yêu cầu của chị Đ, thấy rằng: Chị Đ yêu cầu ly hôn nhưng qua các lần triệu tập hòa giải, xét xử anh Ngh đều vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh Ngh không có thiện chí hòa giải, hàn gắn, cho thấy tình trạng hôn nhân của anh, chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Đ, cho chị Đ ly hôn với anh Ngh là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu về con chung của chị Đ thấy rằng: Từ khi chị Đ và anh Ngh ly thân thì cháu Ngọc Nh sống cùng chị Đ. Chị Đ yêu cầu được nuôi con, anh Ngh không có ý kiến về vấn đề này. Do đó, để ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cần giao Ngọc Nh cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chị Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và về nợ: Chị Đ xác định không có, anh Ngh không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Đ phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Phương Đ.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Phương Đ được ly hôn với anh Dương Chí Ngh.

- Về con chung: Giao Dương Ngọc Nh, sinh ngày 09/12/2017 cho chị Nguyễn Phương Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi Ngọc Nh tròn 18 tuổi, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Anh Dương Chí Ngh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Phương Đ phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001228 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm D (chị Đ đã nộp xong).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ