- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Nguyễn Huỳnh Giao - Ngô Đình Quang Trường"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phạm Nguyễn Quỳnh G.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 12 - 2024 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Phong
2. Bà Đào Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lanh– Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐXX-ST ngày 05 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 237/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Nguyễn Quỳnh G, sinh ngày: 10/10/1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh T.
Nơi ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn B, huyện Đ, tỉnh T.
- Bị đơn: Ngô Đình Quang T, sinh ngày: 28/3/1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 26/6/2024, bản tự khai đề ngày 20/9/2024, nguyên đơn chị Phạm Nguyễn Quỳnh G trình bày:
Chị và anh Ngô Đình Quang T kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh T. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân không hàn gắn tình cảm được cho đến nay. Quá trình chung sống, chị và anh T có 02 con chung Ngô Đình Gia T, sinh ngày: 22/12/2011 và Ngô Đình Gia N, sinh ngày: 10/10/2016, 02 con chung chị đang nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Ngô Đình Quang T.
- Về con chung: Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 20/9/2024.
* Bị đơn anh Ngô Đình Quang T các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đến lần thứ hai đều vắng mặt nên không có lời khai.
*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán phân công giải quyết án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt theo Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn các lần hòa giải đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Nguyễn Quỳnh G. Về con chung: Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và ghi nhận chị G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Chị G khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 20/9/2024 (Bút lục số 25). Bị đơn anh Ngô Đình Quang T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Đại tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh T đều vắng mặt. Anh Trường hiện nay vẫn đang sinh sống tại địa phương (Theo đơn xin xác nhận của Công an xã T ngày 26/6/2024, bút lục số 04). Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị G, anh T là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G và anh Ngô Đình Quang T kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị G trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân không hàn gắn tình cảm được cho đến nay. Chị G vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh T. Anh T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị G. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị G và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị G đối với anh T là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Quá trình chung sống, chị G và anh T có 02 con chung Ngô Đình Gia T, sinh ngày: 22/12/2011 và Ngô Đình Gia N, sinh ngày: 10/10/2016, 02 con chung chị G đang nuôi dưỡng. Ly hôn chị G có yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ lúc chị G và anh T sống ly thân, 02 con chung chị G nuôi dưỡng đến nay và nguyện vọng của 02 con chung là muốn sống chung với mẹ (Thể hiện tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 20/9/2024, bút lục số 21,22). Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, phù hợp quy định pháp luật theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ghi nhận chị G nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung:
Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án hôn nhân, nuôi dưỡng con chung, tài sản chung và nợ chung là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phạm Nguyễn Quỳnh G.
2. Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G được ly hôn với anh Ngô Đình Quang T.
3. Về con chung: Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G được nuôi dưỡng 02 con chung Ngô Đình Gia T, sinh ngày: 22/12/2011 và Ngô Đình Gia N, sinh ngày: 10/10/2016. Ghi nhận chị Phạm Nguyễn Quỳnh G không yêu cầu anh Ngô Đình Quang T cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Trong thời gian con chung của chị G và anh T chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), chị G có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Phạm Nguyễn Quỳnh G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001940 ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, chị Giao đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng KTNV&THA); - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THADS huyện Bình Đại; - UBND xã T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Số 78, quyền số 01/2011 ngày 31/10/2011); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hồng Phƣơng |