- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/12/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Thanh Hải
2. Ông Trương Cao Quý
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân -Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa:
Bà: Trần Thị Nguyệt-Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐngày 10 tháng 7 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Văn H, sinh năm: 1998
Trú tại: Thôn Tr, xã L, huyện B, Thanh Hóa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Lương Thị H1, sinh năm: 2003
Hộ khẩu thường trú: Thôn Tr, xã L, huyện B, Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2024, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh H trình bày: Anh và chị H1 tự do tìm hiểu trong khoảng 01 năm, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo tập quán, đăng ký kết hôn tại UBND xã L ngày 01/11/2022. Thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc, đến khoảng tháng 6/2023 vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, do mâu thuẫn tranh cãi nên tháng 10/2023 chị H1 đã ly thân với anh, để con lại cho anh nuôi, vợ chồng ly thân đã gần 01 năm, quá trình ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Nay anh xét thấy vợ chồng nH1 không cùng mục đích xây dựng gia đình, không còn yêu thương nhau nên anh có nguyện vọng ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Dương Văn L, sinh ngày 22/02/2023. Từ khi sinh ra cho đến nay cháu ở với anh và gia đình bên nội. Vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị H1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con anh không ngăn cấm.
Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản cho chị H1 nH1 chị H1 không đến tòa án làm việc, anh H đề nghị không tiến hành hoà giải. Vì vậy vụ án thuôc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nH1 chị H1 không đến làm việc. Chị H1 cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nH1 vẫn vắng mặt không có lý do, anh H đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa chủ tọa phiên tòa cho công bố đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn và toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Căn cứ điều 227, 228, 238 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228, 238, 273 BLTTDS; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Dương Văn H, xử cho anh H được ly hôn chị H1.
Về con chung: Giao cháu Dương Văn L, sinh ngày 22/02/2023 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị H1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm.
Về tài sản, công nợ: Anh H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Anh H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu ở huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc TAND huyện B được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đã được tống đạt hợp lệ lần thớ hai vắng mặt không có lý do. Vì vậy, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Anh H và chị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L ngày 01/11/2022 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do mâu thuẫn nên từ năm 2023 chị H1 bỏ đi để con lại ch anh H nuôi và không về chung sống với anh H nữa, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai, việc này phù hợp với biên bản xác minh của tòa án. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày một trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho anh H được ly hôn chị H1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Dương Văn L, sinh ngày 22/02/2023. Vợ chồng ly hôn anh H có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Dương Văn L và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung, xét thấy từ khi sinh ra cho đến nay anh H đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì vậy ly hôn giao cháu Dương Văn L cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, giới tình và các quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ chung: Anh H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Anh H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn H được ly hôn chị Lương Thị H1.
Về con chung: Giao 01 con chung là Dương Văn L, sinh ngày 22/02/2023 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.
Về tài sản, công nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nH1 được trừ vào tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu ký hiệu: BLTU/23 số 0005984 ngày 10/7/2024. Anh H đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sư, thời hiệu thi hành án được thi hành án được thực hiện hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - Các đương sự; - UBND xã L; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Ký Vũ Văn Nga |