- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số:158/2023/HNGĐ-ST Ngày 20-9-2023 Về tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Núi
2. Ông Ngô Văn Bi
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T. T, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Lê V. V, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
(chị Nguyễn Thị T. T xin vắng mặt, anh Lê V. V vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 18/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. T trình bày: Chị và anh V quen biết tìm hiểu nhau khoảng 3 năm thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 9 năm 20xx tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với gia đình chồng, khi đứa con đầu được 7 tuổi thì anh chị ra sống riêng tại ấp K, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, từ đó phát sinh mâu thuẫn do anh V thường hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn, dùng lời lẽ xúc phạm chị, nên vợ chồng thường hay cải vã. Chị đã cùng hai con dọn ra ngoài thuê nhà trọ sống, không còn sống chung với anh V khoảng 6 tháng nay. Nay không còn tình cảm, chị yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị T. T, sinh ngày 25/7/20xx và Lê V. T, sinh ngày 15/02/20xx. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Lê V. V đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh V không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. T, chị T được ly hôn với anh Lê V. V. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thị T. T, sinh ngày 25/7/20xx và Lê V. T, sinh ngày 15/02/20xx cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V nhưng anh không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh V vắng mặt là tự từ bỏ lời trình bày của mình tại tòa. Việc vắng mặt của anh V không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T, anh V.
[3] Về hôn nhân: Anh V và chị T kết hôn năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của chị: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V thường hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn, dùng lời lẽ xúc phạm chị. Tháng 01/2023, chị đã cùng hai con dọn ra ngoài thuê nhà trọ sống và ly thân cho đến nay. Về phía anh V, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh vẫn không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Cho thấy, anh không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm hàn gắn tình cảm với chị T và mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra những mâu thuẫn như chị T trình bày. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Thị T. T, sinh ngày 25/7/20xx và Lê V. T, sinh ngày 15/02/20xx, hiện hai cháu đang sống với chị T. Cháu T đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được, chị T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Tỷ của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Tỷ sống cùng chị đã ổn định về mọi mặt; hơn nữa cháu Tỷ có nguyện vọng muốn sống cùng với chị T, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu của chị T là có căn cứ để chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[6] Về án phí: Chị T yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. T
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T. T được ly hôn với anh Lê V. V.
2. Về nuôi con chung:
- Giao con chung tên Lê V. T, sinh ngày 15/02/20xx cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: chị T chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Anh V được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; chị T và các thành viên gia đình không được ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T. T phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008566 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Chị T đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị T, anh V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.Tân Phú Đông; - CC.THADS H.Tân Phú Đông; - UBND xã P; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |