- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9,
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2023/DS-ST Ngày: 12 – 6 – 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đàm Thị Hồng Nhung;
2. Ông Lê Văn Quý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký Tòa án
nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Không thuộc trường hợp Viện kiểm sát
phải tham gia.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 759/2022/TLST-DS ngày
05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 3256/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thạc H, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Nhà 12.26, chung cư 8x P số 163A T, phường T, Quận Y, Thành
phố Hồ Chí Minh. (ông H có mặt)
2. Bị đơn: Ngân hàng Thương mại C;
Địa chỉ: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S, Số 111A P, phường B,
Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991
hoặc ông Phan Dương T, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S, Số 111A P, phường B,
Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh – Giấy ủy quyền số: 016439.23 ngày 21 tháng
02 năm 2023; Giấy ủy quyền số: 030823.23 ngày 20 tháng 3 năm 2023. (bà H,
ông T có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 8 năm 2022; đơn khởi kiện sửa đổi,
bổ sung ngày 16 tháng 9 năm 2022; quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Từ ngày 13 tháng 9 năm 2021 đến nay, nguyên đơn nhận được rất nhiều
thông báo, tin nhắn qua điện thoại từ người lạ không rõ lai lịch yêu cầu nguyên đơn phải chuyển một số tiền liên quan đến các giao dịch của tài khoản số 04170406008XXXX tại Ngân hàng Thương mại C (viết tắt Ngân hàng V) mà nguyên đơn là chủ tài khoản. Nguyên đơn chưa bao giờ mở tài khoản tại Ngân hàng V, không rõ vì lý do gì số tài khoản trên lại mang tên, thông tin của nguyên đơn. Nguyên đơn liên hệ với Ngân hàng V được biết đang tồn tại tài khoản số 04170406008XXXX mang tên của nguyên đơn được mở vào ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại Ngân hàng, với thông tin cá nhân, họ tên, số chứng minh nhân dân, địa chỉ thường trú của nguyên đơn. Nguyên đơn đã yêu cầu Ngân hàng hủy bỏ số tài khoản trên, đồng thời hoàn tất toàn bộ các giao dịch liên quan đến số tài khoản trên và có biện pháp xử lý dứt điểm vụ việc nhưng Ngân hàng không thực hiện. Do đó, liên tục các đối tượng lạ lấy lý do liên quan đến các giao dịch của số tài khoản trên để ép buộc nguyên đơn phải chuyển tiền cho họ (mỗi người gọi, nhắn tin yêu cầu chuyển số tiền khác nhau).
Nguyên đơn khẳng định không mở, không thực hiện giao dịch nào theo tài
khoản số 04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc Htại Ngân hàng V. Ngân hàng V tự ý lấy thông tin của nguyên đơn, mở tài khoản, tạo các giao dịch để các đối tượng lạ liên tục yêu cầu nguyên đơn phải chuyển tiền đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần, công việc, cuộc sống của nguyên đơn.
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hủy
bỏ toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản số 04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc Htại Ngân hàng V. Buộc bị đơn phải tổ chức họp báo xin lỗi công khai nguyên đơn do có hành vi tự ý mở tài khoản mang thông tin cá nhân của nguyên đơn, tự ý tạo các giao dịch mà nguyên đơn không thực hiện, đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 3 tờ báo chính thống trong 03 kỳ liên tiếp.
* Quá trình tố tụng bị đơn trình bày:
Quá trình mở và cập nhật thông tin tài khoản thanh toán của khách hàng
Nguyễn Thạc H, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09 tháng 02 năm 2011 đăng ký mở tài khoản trực tuyến số 04170406008XXXX qua website vib.com.vn. Ngày 02 tháng 02 năm 2018, khách hàng Hiếu đến Ngân hàng V-Chi nhánh Hai Bà Trưng-Phòng giao dịch Kim Đồng xác thực và kích hoạt tài khoản trực tuyến. Đến ngày 18 tháng 3 năm 2022, người mang tên Nguyễn Thạc H, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27 tháng 3 năm 2021 (ông H) đến Ngân hàng V - Phòng giao dịch V yêu cầu thực hiện giao dịch thay đổi thông tin tài khoản trực tuyến, yêu cầu cập nhật thông tin khách hàng cá nhân và ông H đã ký, ghi rõ họ tên, điểm chỉ đã cam kết: “Tôi xin xác nhận những thông tin cá nhân thay đổi trên đây là đúng sự thật và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông tin đã thay đổi”. Do đó, Ngân hàng V đã cập nhật theo yêu cầu của ông H.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022, ông H khiếu nại Ngân hàng V về việc ông H
chưa từng mở tài khoản trực tuyến tại Ngân hàng V, Ngân hàng V đã tự ý mở tài
khoản trực tuyến mang tên, số chứng minh nhân dân của ông H. Ông H yêu cầu
Ngân hàng V chịu trách nhiệm trả nợ/giải quyết các khoản vay do các tổ chức cho
vay đã giải ngân vào tài khoản trực tuyến trong tháng 10 năm 2018. Ngày 06 tháng
6 năm 2022, Ngân hàng V ban hành văn bản phúc đáp ông H có nội dung chưa đủ
cơ sở để khẳng định ông H và khách hàng Hiếu là một người, Ngân hàng V sẽ phối
hợp với cơ quan chức năng khi được yêu cầu.
Theo chứng từ Ngân hàng V lưu trữ và thông tin ông H cung cấp, ngày cấp
chứng minh nhân dân của ông H (ngày 23 tháng 9 năm 2013) không trùng khớp với
ngày cấp chứng minh nhân dân của khách hàng Hiếu (ngày 09 tháng 02 năm 2011).
Do đó, Ngân hàng V xác định ông H với tên đầy đủ là Nguyễn Thạc H, chứng minh
nhân dân số xxxxxxxxx cấp ngày 23 tháng 9 năm 2013 và căn cước công dân số
xxxxxxxxxxxx cấp ngày 27 tháng 3 năm 2021 chưa từng mở tài khoản thanh toán
tại Ngân hàng V. Việc ông H bị một số cá nhân, tổ chức bên ngoài gọi điện làm
phiền cho rằng ông H có giao dịch vay tiền thì Ngân hàng V không buộc phải biết.
Ngân hàng V xác nhận ông H không có bất kỳ khoản nợ nào tại Ngân hàng V và
Ngân hàng V không gọi điện thoại để yêu cầu ông H phải trả bất kỳ một khoản nợ
nào. Ông H đã trình báo sự việc đến Công an phường T, Quận Y, Thành phố Hồ
Chí Minh và Ngân hàng V đã cùng đến hỗ trợ ông H.
Do đó, ông H khởi kiện đòi hủy bỏ toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài
khoản số 04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc H tại Ngân hàng V. Ngân
hàng V có ý kiến, theo Điều 5.1 của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19
tháng 8 năm 2014 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc mở và sử dụng tài
khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định về quyền của
chủ tài khoản thanh toán thì ông H không phải là chủ tài khoản trực tuyến nêu trên
nên yêu cầu hủy bỏ toàn bộ giao dịch liên quan đến tài khoản trực tuyến của ông H
là không có cơ sở thực hiện.
Đối với yêu cầu đòi Ngân hàng V tổ chức họp báo xin lỗi công khai ông H do
có hành vi tự ý mở tài khoản mang thông tin cá nhân của ông H, tự ý tạo các giao
dịch mà ông H không thực hiện, đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 3 tờ
báo chính thống trong 03 kỳ liên tiếp. Ngân hàng V mở tài khoản trực tuyến cho
khách hàng Hiếu đúng quy định pháp luật, không đăng tải, đưa ra bất kỳ thông tin
ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông H trên phương tiện thông
tin đại chúng nên không có cơ sở để Ngân hàng V họp báo xin lỗi công khai, đăng
tin cải chính theo yêu cầu của ông H nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
yêu cầu của ông H. Ngân hàng V có thiện chí cùng ông H để giải quyết vụ án
nhưng các bên không thỏa thuận được nên đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải
nữa đề nghị đưa vụ án xét xử theo quy định.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nhưng có ý kiến bổ sung, đề
nghị Hội đồng xét xử nhận định hủy toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản số 04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc H tại Ngân hàng Thương mại C từ ngày 02 tháng 10 năm 2018 đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông H thừa nhận ngày 18 tháng 3 năm 2023 ông đến Ngân hàng V - Phòng giao dịch V yêu cầu thực hiện giao dịch thay đổi thông tin tài khoản trực tuyến, yêu cầu cập nhật thông tin khách hàng cá nhân của tài khoản trực tuyến số 04170406008XXXX từ chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09 tháng 02 năm 2011 sang căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27 tháng 3 năm 2021 với lý do cần xác định lại thông tin về tài khoản trực tuyến. Ông H khẳng định không có bất kỳ giao dịch nào với Ngân hàng V nhưng ông nhận lại được tin nhắn từ người lạ yêu cầu ông chuyển tiền, người gửi tin nhắn ông không biết có phải nhân viên của Ngân hàng V không, ông đã trình báo sự việc đến Công an phường T, Quận Y nơi ông sinh sống và Công an Phường 22, quận Bình Thạnh nơi ông H xác định vị trí đối tượng lạ nhắn tin yêu cầu ông H chuyển tiền, nhưng đến nay cơ quan Công an không có thông tin gì.
Bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tài
khoản trực tuyến số 04170406008XXXX bị đơn cấp từ chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09 tháng 02 năm 2011 cho ông Nguyễn Thạc H không phải là nguyên đơn trong vụ án. Ngày 18 tháng 3 năm 2022 nguyên đơn đến Ngân hàng V - Phòng giao dịch V yêu cầu thực hiện giao dịch thay đổi thông tin tài khoản trực tuyến số 04170406008XXXX từ chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09 tháng 02 năm 2011 sang căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27 tháng 3 năm 2021 và Ngân hàng V đã ghi nhận. Kể từ ngày nguyên đơn thay đổi thông tin tài khoản không phát sinh bất kỳ một giao dịch nào đối với nguyên đơn, bị đơn đã tạm ngưng giao dịch này. Bị đơn đồng ý hủy toàn bộ giao dịch liên quan đến tài khoản số 04170406008XXXX từ ngày 18 tháng 3 năm 2023 đến ngày xét xử sơ thẩm. Trường hợp nguyên đơn đồng ý thỏa thuận để chấm dứt vụ án thì bị đơn đồng ý hỗ trợ nguyên đơn 10.000.000 đồng.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 không tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[ [ [
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng
Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ xác định đây là vụ án dân
sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Xét, bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Xét, theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Viện
kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ
thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng
tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có
đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này”. Quá trình
giải quyết vụ án Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nào ngoài chứng cứ các
đương sự giao nộp. Do đó, không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân Quận
1 phải tham gia phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật Tố tụng dân sự nên
Hội đồng xét xử quyết định xét xử khi không có đại diện Viện kiểm sát tham gia.
[2] Về pháp luật nội dung
Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét, các bên thống nhất thừa nhận tài khoản số 04170406008XXXX
được Ngân hàng V cấp cho khách hàng Nguyễn Thạc H theo hình thức mở tài
khoản trực tuyến qua website vib.com.vn vào ngày 02 tháng 10 năm 2018 không
phải là ông Nguyễn Thạc H nguyên đơn trong vụ án. Đồng thời xác nhận nguyên
đơn không có bất kỳ giao dịch nào liên quan đến số tài khoản trên nên quyền và
nghĩa vụ các bên không phát sinh trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều
Xét, ngày 18 tháng 3 năm 2022, nguyên đơn đến Ngân hàng V - Phòng
giao dịch V thay đổi thông tin tài khoản trực tuyến số 04170406008XXXX, cập
nhật thông tin khách hàng từ chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh
Bắc Ninh cấp ngày 09 tháng 02 năm 2011 sang căn cước công dân số
xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27
tháng 3 năm 2021. Nguyên đơn cho rằng không mở tài khoản nhưng thông tin cá
nhân tên Nguyễn Thạc H được bị đơn cấp tài khoản trực tuyến số
04170406008XXXX ngày 02 tháng 10 năm 2018 là của nguyên đơn. Nhận thấy,
nguyên đơn không mở tài khoản nhưng lại cập nhật thay đổi thông tin về tài khoản
là mâu thuẫn, bất nhất.
Xét, các bên thống nhất thừa nhận kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2022 là
ngày nguyên đơn thay đổi thông tin tài khoản trực tuyến không phát sinh bất kỳ
giao dịch nào liên quan đến tài khoản trên, tài khoản đã tạm ngưng giao dịch. Bị
đơn đồng ý hủy bỏ toàn bộ giao dịch liên quan đến tài khoản trên từ ngày 18 tháng
3 năm 2022 đến ngày xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp quy
định Điều 422 Bộ luật Dân sự.
Xét, các bên thống nhất thừa nhận kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2022 khi
nguyên đơn thay đổi thông tin tài khoản trực tuyến không giao dịch nào được thực
hiện, không phát sinh thiệt hại vật chất nào, việc cập nhật thông tin nhằm xác định
rõ trách nhiệm của bên có lỗi mà nguyên đơn không chứng minh được lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi có lỗi và thiệt hại của bị đơn nên không có căn cứ để buộc bị đơn đăng báo xin lỗi và cải chính công khai nguyên đơn là phù hợp Điều 584 Bộ luật Dân sự.
. Xét, theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự chứng cứ là
những gì có thật được đương sự giao nộp, xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án. Đương sự yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được. Tại phiên tòa nguyên đơn xuất trình bản photo tài liệu, hình ảnh qua zalo các đối tượng lạ yêu cầu nguyên đơn chuyển tiền nhưng không chứng minh được những đối tượng này là ai nên không xem là chứng cứ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu quy định của pháp luật Hội
đồng xét xử xét không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn hủy bỏ toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản số 04170406008XXXX mang tên nguyên đơn tại Ngân hàng Thương mại C từ ngày 02 tháng 10 năm 2018 đến ngày 17 tháng 3 năm 2023 và buộc bị đơn tổ chức họp báo xin lỗi công khai nguyên đơn do có hành vi tự ý mở tài khoản mang thông tin cá nhân của nguyên đơn, tự ý tạo các giao dịch mà nguyên đơn không thực hiện, đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 3 tờ báo chính thống trong 03 kỳ liên tiếp; ghi nhận việc bị đơn đồng ý hủy bỏ toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản số 04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc H tại Ngân hàng Thương mại C từ ngày 18 tháng 3 năm 2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 26
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được ghi nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định
tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 422, Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9,
Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thạc H buộc Ngân
hàng Thương mại C hủy bỏ toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản số
04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc H tại Ngân hàng Thương mại C từ
ngày 02 tháng 10 năm 2018 đến ngày 17 tháng 3 năm 2022.
2. Ghi nhận việc Ngân hàng Thương mại C đồng ý hủy bỏ toàn bộ các giao
dịch liên quan đến tài khoản số 04170406008XXXX mang tên Nguyễn Thạc H tại
Ngân hàng Thương mại C từ ngày 18 tháng 3 năm 2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thạc H buộc Ngân
hàng Thương mại C tổ chức họp báo xin lỗi công khai ông Nguyễn Thạc H do có
hành vi tự ý mở tài khoản mang thông tin cá nhân của ông Nguyễn Thạc H, tự ý
tạo các giao dịch mà ông Nguyễn Thạc H không thực hiện, đăng báo xin lỗi và cải
chính công khai trên 3 tờ báo chính thống trong 03 kỳ liên tiếp.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Thạc H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho ông Nguyễn Thạc H số tiền 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2022/0000399 ngày 04
tháng 10 năm 2022 và số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai
thu tạm ứng án phí số: AA/2022/0000402 ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Chi Cục
thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại C
phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Thạc H, Ngân hàng Thương mại C có
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy
định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự
năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Q1; - Chi cục THADS Q1; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Tuân |