vanban.org

Bản án 158/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Quốc T phạm tội “Cướp tài sản”. 2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Quốc T 04 (bốn) năm 06 (sáu) th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Quốc T - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2022/HS-ST
Ngày: 31-8-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Ngô Văn Đơn.

2/ Ông Nguyễn Văn Du.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Dầu Một) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2022/QĐXXST-HS ngày 06/7/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Quốc T, sinh năm 1974. Tại: Đồng Tháp. Nơi ĐKHKTT: không có nơi cư trú xác định; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Tân t1 và bà Lý Thị H; vợ: Nguyễn Thị Kim A, bị cáo chưa có con. Tiền án: Ngày 12/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HS-ST; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/4/2000, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 42/HSST; Ngày 26/9/2001, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 518/HSST; Ngày 28/3/2006, Tòa nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 37/2006/HSST; Ngày 06/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự phúc thẩm số 146/2011/HSPT; Ngày 30/11/2004, Chủ tịch UBND thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/8/2021 và tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Dầu Một.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp TM, xã BT, huyện PH, tỉnh Hậu Giang; (Tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một); vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông La Vĩnh P, sinh năm 1975; địa chỉ: phường C, thành phố M, tỉnh Bình Dương; (Tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Quốc T là đối tượng sống lang thang, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 11/8/2021, khi Trương đang đi bộ trên đường N1 ở trong Khu Công nghiệp ĐĐ, địa chỉ tại phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương thì Trương nhìn thấy chị Nguyễn Thị D đang dừng xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 95E1-468.xx bên lề đường N1 để đứng kiểm đếm tiền lương. Thấy vậy, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà D nên T giả vờ đi đến chỗ bà D để xin đi nhờ xe. Cùng lúc này, T nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 95E1-468.xx đang cắm sẵn chìa khoá trên xe nên T dùng tay trái đẩy mạnh vào vùng vai, cổ và dùng chân đạp vào chân bà D làm cho bà D té ngã xuống đường rồi T lên xe mô tô biển số 95E1-468.xx nổ máy nhanh chóng tẩu thoát và đi đến Cửa hàng mua bán xe cũ NP để bán xe mà cướp được cho chủ cửa hàng là anh La Vĩnh P được số tiền 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng và sau đó T sử dụng số tiền trên để tiêu xài cá nhân hết. Còn đối với bà D, ngay sau khi bị cướp tài sản đã đến Đồn Công an Khu Công nghiệp KH để trình báo sự việc. Ngay khi tiếp nhận tin báo, Lực lượng Công an Khu Công nghiệp KH đã đến xác định hiện trường và lập hồ sơ vụ việc ban đầu. Cùng ngày 11/8/2021, Đồn Công an Khu Công nghiệp KH đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 13/8/2021, Đào Quốc T đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng vũ lực để cướp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 95E1-468.xx của chị Nguyễn Thị D. Cùng ngày 13/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã tiến hành khám xét khẩn cấp Cửa hàng mua bán xe NP và thu giữ số vật chứng, gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 95E1-468.xx; số khung: RLCUE3223-HY027162; số máy: E3X9E-102911 và 01 (một) Giấy mua bán chiếc xe mô tô biển số 95E1-468.xx.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 195/KLTS-TTHS ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 95E1-468.xx; số khung: RLCUE3223-HY027162; số máy: E3X9E-102911 (được mua vào năm 2017), trị giá 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 95E1-468.xx. Ngày 16/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 136 để giao trả chiếc xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị D. Hiện tại, bà D không có yêu cầu gì đối với Trương nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Cáo trạng số 85/CT-VKS-HS ngày 19/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Đào Quốc T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đào Quốc T mức hình phạt từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp số tiền 1.500.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Với hành vi dùng vũ lực tấn công bà Nguyễn Thị D, ngay tức khắc chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius có trị giá 12.000.000 đồng mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đối với La Vĩnh P, khi mua xe do Đào Quốc T bán lại thì việc mua bán này hoàn toàn không có giấy tờ chứng minh nhân thân người bán và nguồn gốc xe; bản thân P khai là biết việc mua bán trên là vi phạm pháp luật; ý thức của P xác định được rằng xe này có thể là xe gian do trộm mà có (theo nội dung bản tự khai) nhưng vẫn đồng ý mua xe trên. Ngoài ra giá trị xe mà P mua thấp hơn rất nhiều so với giá thực tế ngoài thị trường (P mua 01 xe Yamaha Sirius với giá 1.500.000 đồng). Do đó, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của La Vĩnh P để xử lý khi có đủ căn cứ.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bản thân bị cáo là đối tượng từng nhiều lần vi phạm pháp luật, 06 lần bị Tòa án xét xử hình sự, 01 lần bị áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc nhưng sau khi chấp hành hình phạt, bị cáo vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật; điều đó chứng tỏ bị cáo là phần tử nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do lỗi cố ý là trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, giao trả cho bị hại đồng thời sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Do La Vĩnh P không có yêu cầu gì về phần bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính sung ngân sách nhà nước.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Quốc T phạm tội “Cướp tài sản”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Quốc T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/8/2021.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

4/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo nộp số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính sung ngân sách nhà nước.

5/ Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một tiếp tục xác minh làm rõ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của La Vĩnh P để xử lý khi có đủ căn cứ.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ