- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Tuấn A - Nguyễn Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn A đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2022/HNGĐ-ST Ngày 31-5-2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Chánh;
Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 499/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 175/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968.
Địa chỉ: 12/50, Tổ S, Khu phố O, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Đ kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/11/2005. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau. Từ tháng 01/2015, ông và bà Đ sống ly thân đến nay. Vì không muốn gia đình đỗ vỡ, vợ chồng đã nhiều lần trao đổi tìm cách giải quyết mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc nhưng không được. Nay ông xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với bà Đ.
Về con chung: Ông và bà Đ có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Diễm A, sinh ngày 19/10/2006, cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 15/6/2008 và cháu Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 05/01/2012. Ly hôn, ông xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và cháu H, không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con. Ông đồng ý giao cháu Diễm A cho bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Tuấn A ly hôn bà Nguyễn Thị Đ.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn N và cháu Nguyễn Thị Diễm H cho ông Nguyễn Tuấn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Thị Diễm A cho bà Nguyễn Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, bà Nguyễn Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; ông Nguyễn Tuấn A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí ly hôn và cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đang cư trú tại 12/50, Tổ S, Khu phố O, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.
Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng ông A có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Ông Tuấn A và bà Đ kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/11/2005. Căn cứ các Điều 9, 11, 12, 13 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân giữa ông Tuấn A và bà Đ là hợp pháp. Theo ông Tuấn A, vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau. Từ tháng 01/2015, ông Tuấn A và bà Đ sống ly thân đến nay.
Theo kết quả xác minh ngày 04/3/2022 do UBND Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thể hiện giữa ông Tuấn A và bà Đ thường xuyên cãi vã nhau, từ năm 2015 bà Đ và cháu Diễm A không còn cư trú tại địa phương. Mặt khác, các đương sự đã được Tòa án triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Tuấn A có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bà Đ vắng mặt không có lý do. Vì vậy, có cơ sở chứng minh ông Tuấn A đã cương quyết ly hôn; bà Đ bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình.
Từ những nhận định trên, xét thấy, ông Tuấn A và bà Đ đã ly thân thời gian dài, quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho ông Tuấn A được ly hôn với bà Đ.
Về con chung:
Ông Tuấn A và bà Đ có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Diễm A, sinh ngày 19/10/2006, cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 15/6/2008 và cháu Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 05/01/2012. Hiện nay, cháu N và cháu H đang do ông Tuấn A nuôi dưỡng và từ năm 2015 đến nay cháu Diễm A do bà Đ nuôi dưỡng. Cháu N và cháu H có nguyện vọng sống với ông Tuấn A khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển cho con chung, Hội đồng xét xử giao cháu N, cháu H cho ông Tuấn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Diễm A cho bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Ông Tuấn A không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Tuấn A đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Diễn A mỗi tháng 3.000.000 đồng là đảm bảo quyền lợi của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông Tuấn A xác định vợ chồng không có tài sản chung nhưng bà Đ không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Ông Tuấn A xác định vợ chồng không có nợ chung nhưng bà Đ không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Tuấn A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 11, 12, 13 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn A đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Tuấn A ly hôn bà Nguyễn Thị Đ.
2. Về con chung:
- Giao cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 15/6/2008 và cháu Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 05/01/2012 cho ông Nguyễn Tuấn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, bà Nguyễn Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Giao cháu Nguyễn Thị Diễm A, sinh ngày 19/10/2006 cho bà Nguyễn Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Nguyễn Tuấn A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Thị Diễm A trưởng thành và có khả năng lao động.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị Đ cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Tuấn A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000309 ngày 09/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông Nguyễn Tuấn A phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. B; - Chi cục THADS TP. B; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Hoàng Long |