- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc D, Đỗ Khắc Tr - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Đỗ Khắc Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 287 Bộ luật Dân sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158 /2019/HSST Ngày 24 tháng 9 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS, TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn B; ông Nguyễn Tất H;
Những người tiến hành tố tụng khác:
Thư ký phiên tòa : Ông Tạ Hữu H, Thư ký Toà án thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tá T, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2019/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2019/HSST-QĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc D,sinh năm 1992; tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Thôn Y K, xã Y T, huyện GL, thành phố Hà Nội ;Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Ngọc Ng, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 9đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bÞ bắt truy nã tõ ngµy 22/4/2019, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên toà.
2. Đỗ Khắc Tr, sinh năm 1999 ; tên gọi khác: Không.
N¬i cư trú: Thôn VQ, xã SN, huyện SD, tỉnh Tuyên Quang ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con út; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bÞ t¹m giam tõ ngµy 15/3/2019 ®Õn nay tại nhà tạm giữ công an thị xã Từ Sơn, có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Anh Nguyễn Thế H, sinh năm 1993
Trú tại: Khu phố TX, phường CK, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh ( có mặt)
Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965
Trú tại: Thôn VQ, xã SN, huyện SD, tỉnh Tuyên Quang ( Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Thế H có quan hệ quen biết là bạn đồng ngũ, cùng đơn vị trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự. Khoảng tháng 8 năm 2013, trước thời điểm ra quân D có vay của anh Hoàng Văn D sinh năm 1975 trú tại: thôn Phúc L, xã TT, huyện VY, tỉnh Bắc Giang số tiền 7.550.000 đồng (H khai: trong số tiền 7.550.000 đồng có 3.000.000 đồng là tiền của H đưa cho anh D). Anh D có nhờ H đòi số tiền 3.000.000 đồng là tiền anh D cho D vay. D khai: D không biết anh D nhờ H đòi tiền cho anh D.
Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 16/8/2018, tại tầng 1 quán karaoke Hoa Cỏ May thuộc phường ĐB, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, khi Nguyễn Ngọc D đang ngồi ở ghế sô pha thì H và Nguyễn Đình Th sinh năm 1984, HKTT: khu phố TX, phường CK, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh đi từ trên phòng hát xuống tầng 1. Thấy D ngồi ở ghế sô pha, H có tiến lại gần D và nói: “có tiền trả tao đi”. D trả lời: tao không vay mà. Nghe thấy D nói như vậy, H dùng chân đá vào bụng, dùng tay tát vào mặt D; Th dùng tay, hai lần tát vào má D. Sau khi bị đánh, D đi bộ ra ngoài quán rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ về khu phòng trọ ở xóm 7, ngõ 1, đường LQĐ, phường ĐN, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh. Tại phòng trọ, D gặp Đỗ Khắc Tr, sinh năm 1999, HKTT: thôn VQ, xã NS, huyện SD, tỉnh Tuyên Quang, D nói với Tr: “tao bị đánh”. Tr hỏi: “đánh ở đâu”. D trả lời: “tao bị đánh ở quán Karaoke Hoa Cỏ May”. Sau đó D rủ Tr đi cùng D đến quán Hoa Cỏ May để đánh lại H, Th. Tr đồng ý. D đi vào trong phòng trọ, lấy 02 con dao phóng lợn (loại dao có cán là tuýp sắt gắn mũi dao là dao chọc tiết lợn có kích thước: chiều dài dao là 170 cm, phần cán dao dài 148 cm, đường kính 2 cm; phần sống dao dài 22cm, chỗ rộng nhất 7,2 cm, mũi dao nhọn) mang ra ngoài phòng trọ đưa cho Tr cầm rồi điều khiển xe mô tô chở Tr đến quán Hoa Cỏ May. Khi đến cửa quán Karaoke Hoa Cỏ May, Tr đưa cho D 01 con dao, Tr cầm 01 con dao rồi cả hai tiến đến chỗ H đang ở tầng 1 quán Karaoke Hoa Cỏ May. D cầm dao giơ lên chém theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía H nH không trúng H. Tiếp đó, Tr cầm dao chém một cái theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải về phía H, H đỡ được và cầm được vào phần tuýp sắt của dao “phóng lợn”. Trong lúc, Tr và H đang giằng co, D cầm dao chém 01 nhát theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng tay trái của H. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở Tr cầm dao về phòng trọ. Còn H đi bệnh viện quân đội 108 điều trị.
Ngày 17/8/2018, Nguyễn Ngọc D tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TS 02 con dao nêu trên (02 con dao trên đã được D rửa qua nước trước khi giao nộp)
Theo giấy chứng nhận thương tích số 2258 ngày 10/10/2018 của Bệnh viện Quân đội 108, anh H có các thương tích như sau: Vết thương mặt sau ngoài cánh tay trái dài khoảng 8 cm đã khâu: da xung quanh vết thương bình thường, đau, không giạng được ngón I, không duỗi được cổ tay, không duỗi được đốt 1 các ngón dài tay trái. Mạch quay trái bắt rõ. ( BL 23)
Ngày 29/10/2018, Cơ quan CSĐT Công an thị xã TS ban hành quyết định trưng cầu giám định số 399 trưng cầu Tr tâm giám định pháp y tỉnh Bắc Ninh giám định tỉ lệ phần trăm thương tích, cơ chế hình thành thương tích của anh H.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 172 ngày 16/11/2018 của Tr tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Sẹo 1/3 giữa cánh tay trái hình chữ T, 1 cạnh dài 13 cm và 01 cạnh dài 09 cm, rộng 0,4 cm. Sẹo lồi ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Áp dụng chương 9, tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Phần II. Sẹo vết thương phần mềm ảnh hưởng thẩm mỹ. Mục 1 số lương sẹo ít, kích thước Tr bình trở xuống. = 7%.
- Điện thần kinh cơ kết luận: tổn thương bán phần thần kinh quay trái đoạn cánh tay. Áp dụng chương 2, tổn thương cơ thể do tổn thương xương sọ và hệ thần kinh. Phần VII. Tổn thương rễ, đám rối, dây thần kinh. Mục 3.15 tổn thương bán phần thần kinh quay (đoạn 1/3 giữa cánh tay) = 28%.
- Cơ chế là do tác động ngoại lực bởi vật sắc.
Căn cứ vào thông tư số 20/2014 TT-BYT ký ngày 12/6/2014 của Bộ y tế quy định tại bảng 1. Bảng tỷ lệ phần phần trăm cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 33%.
Ngày 04/3/2019, Cơ quan CSĐT Công an thị xã TS ban hành quyết định trưng cầu giám định số 129 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định: 02 con dao phóng lợn D tự nguyện giao nộp nêu trên có thể gây ra thương tích như trên của anh H không? trên phần lưỡi dao có dấu vết máu người không? Nếu là máu người thì nhóm máu gì?
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 95A ngày 07/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Bắc Ninh kết luận:
- 02 con dao gắn tuýp sắt có đặc điểm như đã mô tả có thể gây ra vết thương vùng mặt sau ngoài cánh tay trái của anh Nguyễn Thế H.
- Trên 02 con dao nói trên không tìm thấy dấu vết máu người.
Sau khi sự việc xảy ra phía gia đình bị cáo Đỗ Khắc Tr đã xuống gia đình anh Nguyễn Thế H để bồi thường 20.000.000đ nH anh H không đồng ý với mức bồi thường và không nhận số tiền trên nên mẹ bị cáo Tr đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ vào Chi cục thi hành án thị xã Từ Sơn để bồi thường thiệt hại cho anh H. Quá trình điều tra người bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 300.000.000đ bao gồm: 50.000.000đ tiền thuốc men, viện phí, chi phí điều trị; 80.000.000đ tiền uống thuốc trong vòng 5 năm và 170.000.000đ tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe chức năng bị mất, tiền mất thu nhập thực tế của người bị hại và người chăm sóc trong thời gian người bị hại nằm viện điều trị thương tích và một khoản tiền tổn thất về tinh thần. Phía người bị hại chưa giao nộp bất cứ hóa đơn điều trị hay tài liệu liên quan đến chi phí cấp cứu điều trị.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số 99/CTr- VKS ngày 29/5/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TS truy tố Nguyễn Ngọc D, Đỗ Khắc Tr tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 BLHS.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Bị cáo D khai nhận, tối ngày 16/8/2018 tại quán Karaoke Hoa Cỏ May bị cáo đã bị anh Nguyễn Thế H và bạn anh H đánh, đá vào bụng và tát vào mặt nên bị cáo đã đi về phòng trọ và rủ Đỗ Khắc Tr đi cùng để đánh anh H. Bị cáo đã lấy 02 tuýp sắt có gắn dao phóng lợn ở phòng trọ đưa cho Tr cầm và đi xe máy chở Tr đến quán Hoa Cỏ May. Tại đây, bị cáo đã dùng tuýp sắt gắn dao phóng lợn chém anh H 2 phát, phát thứ nhất không trúng, phát thứ hai trúng cánh tay trái của anh H. Bị cáo thừa nhận trực tiếp gây thương tích cho anh H nH bị cáo đề nghị HĐXX xem xét kết luận giám định về thương tích của anh H vì bị cáo thấy hiện tại vết thương trên cánh tay trái của anh H chỉ nhìn thấy vết sẹo lồi, cánh tay trái của anh H vẫn hoạt động bình thường. Sau khi nghe giải thích bị cáo đồng ý với bản kết luận giám định và không có ý kiến gì. Bị cáo Đỗ Khắc Tr cũng thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khẳng định bị cáo D có rủ bị cáo đi cùng để đánh anh H, bị cáo thừa nhận có dùng tuýp sắt gắn dao phóng lợn chém anh H một phát nH anh H túm được, vết thương trên cánh tay trái anh H là do D chém gây ra, bị cáo đồng ý với bản kết luận giám định. Với hành vi như vậy nay bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, không có oan sai gì; các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về đoàn tụ gia đình và xã hội.
Người bị hại là Nguyễn Thế H khẳng định thương tích của bản thân là do Nguyễn Ngọc D dùng dao chém vào tối ngày 16/8/2019 tại quán Karaoke Hoa Cỏ May, phường ĐB, thị xã TS. Nguyên nhân H bị D và Tr chém là do thời điểm liền trước đó H và Th bạn của H dùng tay, chân đấm đá đánh D. Người bị hại thừa nhận trong việc này bản thân cũng có lỗi. Về trách nhiệm hình sự người bị hại đề nghị Tòa xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về phần trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thế H cho biết, sau khi bị D và Tr dùng dao chém gây thương tích, H được gia đình đưa đi cấp cứu, mổ và điều trị tại Bệnh viện TW Quân đội 108 từ ngày 17/8/2018 đến ngày 30/8/2018 thì xuất viện về nhà. Hiện nay tuy vết mổ đã lành, nH tay trái H mới cử động được phần cổ tay, chưa duỗi thẳng được các ngón tay, hiện không làm được việc nặng. Theo như ý kiến của các bác sĩ, để hồi phục chức năng vận động tay thì phải uống thuốc trong vòng 5 năm. Do vậy, tại phiên tòa người bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường toàn bộ chi phí cấp cứu điều trị; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 30.000.000đ; tiền mất thu nhập thực tế của anh H là 10.000.000đ; tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian người bị hại nằm viện điều trị thương tích là 3.000.000đ;tiền tổn thất về tinh thần là 50.000.000đ, tổng cộng là 93.000.000đ. Người bị hại xác nhận gia đình bị cáo Tr có đến gặp để bồi thường thiệt hại số tiền là 20.000.000đ nH phía người bị hại không nhận số tiền này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L cho biết, sau khi biết việc con trai của bà cùng với bị cáo Nguyễn Ngọc D dùng dao gây thương tích cho Nguyễn Thế H, bà ý thức được việc làm của con mình là trái pháp luật nên gia đình đã tạm thời bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.0000đ để bồi thường một phần thiệt hại nH phía anh H không đồng ý nhận, do vậy bà đã nộp số tiền này tại Chi cục thi hành án thị xã TS. Trong số tiền này có cả tiền của con trai bà đi làm gửi về cho bà giữ hộ, do vậy bà không yêu cầu Tr phải trả lại cho bà số tiền này.
Hội đồng xét xử tiến hành hòa giải để các bên tự thương lượng giải quyết vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự song giữa các bên không thống nhất lương lượng được với nhau về việc giải quyết vấn đề bồi thường dân sự và đều đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS thực hành quyền công tố Nhà nước, trên cơ sở phân tích đánh giá tính chất vụ án mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Ngọc D từ 05 năm 06 tháng đến 6 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt truy nã 22/4/2018.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS
Xử phạt Đỗ Khắc Tr từ 5 năm đến 5 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/3/2019
+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 287; 584, 585, 587, 590 BLDS: Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại số tiền: 85.711.400đ gồm:
- Tiền viện phí theo chứng từ bệnh viện 108 cung cấp: 23.211.400đồng
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 10.000.000 đồng.
- Tiền xe ôtô đi khám chữa bệnh : 2 x 500.000đ = 1000.000 đồng
- Tiền mất thu nhập của anh H trong thời gian điều trị tại bệnh viện : 14 x
300.000đ = 4.200.000 đồng
- Tiền mất thu nhập của người chăm sóc ( mẹ anh H): 14 x 200.000đ =
2.800.000 đồng
- Tiền tổn thất tinh thần : 30 x 1.490.000đ = 44.700.000 đồng.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ 02 con dao phóng lợn loại dao có cán là tuýp sắt gắn mũi dao là dao chọc tiết lợn có kích thước: chiều dài dao là 170 cm, phần cán dao dài 148 cm, phần sống dao dài 22cm, mũi dao nhọn.
Tạm giữ số tiền 20.000.000đ của Đỗ Khắc Tr do bà Nguyễn Thị L nộp tại Chi cục thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
Tại phần tranh luận, các bị cáo thừa nhận hành vi sử dụng dao chém gây thương tích cho anh Nguyễn Thế H là phạm tội. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Người bị hại không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và phần bồi thường trách nhiệm dân sự.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo,
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời trình bày của các nhân chứng, lời khai của người bị hại, phù hợp với Kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 16/8/2018, tại tầng 1 quán karaoke Hoa Cỏ May thuộc phường ĐB, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, do có mâu thuẫn giữa Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Thế H nên Nguyễn Ngọc D và Đỗ Khắc Tr đã có hành vi dùng tuýp sắt có gắn dao phóng lợn chém anh H và D đã chém trúng vào tay trái anh H, gây thương tích cho anh H. Hành vi dùng dao phóng lợn là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho anh H với tỷ lệ thương tật là 33% của các bị cáo đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS truy tố bị cáo theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hại Nguyễn Thế H. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến tình đoàn kết và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong cộng đồng nhân dân. Vì vậy với các bị cáo cần phải có một mức án tương xứng cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Đây là vụ án đồng phạm, quá trình tham gia tội phạm các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành nên vụ án chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Xét vai trò tham gia tội phạm và nhân thân của từng bị cáo thì thấy. Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc D là người giữ vai trò chính, quá trình thực hiện tội phạm thể hiện là người tích cực hơn Đỗ Khắc Tr, bị cáo là người trực tiếp lấy 2 con dao phóng lợn mang đi mục đích để chém H và là người trực tiếp gây thương tích cho anh H. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã. Vì thế với bị cáo cần phải có một mức án cao hơn bị cáo Tr, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của bản thân đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51. Trước khi xảy ra việc bị cáo dùng dao phóng lợn chém gây thương tích cho anh H thì anh H và bạn H có hành vi trái pháp luật đối với bị cáo là dùng tay chân đấm, đá vào bụng, tát vào mặt bị cáo gây thương tích nhẹ cho bị cáo; bản thân bị cáo có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với bị cáo Đỗ Khắc Tr khi D rủ đi cùng để chém anh H, bị cáo đã đồng ý tham gia nH mức độ tham gia tội phạm so với Nguyễn Ngọc D có phần hạn chế hơn, bị cáo dùng dao phóng lợn chém về phía anh H một phát nH anh H túm được và hai bên giằng co nhau, trong lúc giằng co bị cáo nhìn thấy tay trái anh H bị chảy máu do D chém nên bị cáo đã bảo anh H bỏ tay ra bị cáo sẽ không chém anh H nữa, sau khi anh H bỏ tay ra thì bị cáo cầm dao phóng lợn đi về, điều đó chứng tỏ hành vi của bị cáo không quyết liệt, thương tích của anh H bị cáo không trực tiếp gây ra . Hành vi của bị cáo cũng cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và cải tạo bị cáo. Song, xét thấy bản bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn và thực sự ăn năn hối cải với hành vi phạm tội. Sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã tác động gia đình đến bồi thường thiệt hại cho anh H số tiền 20.000.000đ , anh H không đồng ý với mức bồi thường và không nhận nên mẹ bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ vào Chi cục thi hành án để bồi thường cho anh H; bị cáo có mẹ đẻ tham gia dân quân hỏa tuyến và được hưởng chế độ, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường toàn bộ các chi phí thực tế hợp lý liên quan đến việc cấp cứu điều trị, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe của người bị hại như: Tiền viện phí, tiền thuốc, tiền phương tiện đi lại, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 30.000.000đ; Tiền mất thu nhập của người bị hại trong thời gian điều trị là 10.000.000đ; tiền mất thu nhập của người phục vụ chăm sóc người bị hại là 3.000.000đ; Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần đối với người bị hại là 50.000.000đ. Với tổng mức bồi thường là 93.000.000đ. Sau khi xem xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, đối chiếu với các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm hại. Hội đồng xét xử thấy, người bị hại bị thương tật phải đi các cơ sở y tế cấp cứu điều trị và phục hồi chức năng bị mất là hoàn toàn do lỗi của các bị cáo gây ra, do vậy các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ những chi phí hợp lý đó. Tuy nhiên người bị hại không cung cấp được hoá đơn, chứng từ trong quá trình điều trị. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh nội trú của Bệnh viện Tr ương quân đội 108 thì các chi phí thực tế, hợp lý gia đình người bị hại đã phải bỏ ra trong thời gian người bị hại cấp cứu điều trị, phục hồi sức khỏe chức năng bị giảm sút tại bệnh viện 108 từ ngày 17/8/2018 đến ngày 30/8/2018 là 23.211.400 đồng; tiền phương tiện đi lại là 1.000.000đ; Căn cứ vào biên bản xác minh thu nhập thì khoản mất thu thu nhập của người bị hại trong thời gian điều trị là 14 ngày x 300.000đ/ngày = 4.200.000đ; khoản mất thu nhập của người chăm sóc (mẹ người bị hại) trong thời gian điều trị là 14 ngày x 200.000đ/ngày = 2.800.000đ, các chi phí thực tế hợp lý này các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường toàn bộ. Ngoài ra căn cứ vào mức độ tổn hại về sức khỏe, mức độ lỗi của các bên và mức độ tổn thất về tinh thần cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho người bị hại một khoản tiền bù đắp về tinh thần tương đương 30 tháng lương tối thiểu theo quy định của nhà nước là 30 x 1.490.000đ = 44.700.000đ. Như vậy các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 85.711.400đ, xét đề nghị của Viện kiểm sát về mức bồi thường là phù hợp. Song xét thấy, thương tích của anh H do D trực tiếp gây ra nên cần buộc bị cáo D phải có trách nhiệm bồi thường cho anh H nhiều hơn bị cáo Tr cụ thể: D phải bồi thường cho anh H số tiền 50.000.000đồng, Tr phải bồi thường cho anh H số tiền là 35.711.400đồng.
Về vật chứng: Xác định 02 con dao loại dao phóng lợn có cán là tuýp sắt gắn mũi dao là dao chọc tiết lợn có kích thước: chiều dài dao là 170 cm, phần cán dao dài 148 cm, phần sống dao dài 22cm, mũi dao nhọn là hung khí các bị cáo sử dụng gây thương tích cho người bị hại. Đây là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Tạm giữ số tiền 20.000.000đ của Đỗ Khắc Tr do bà Nguyễn Thị Lâm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
Liên quan trong vụ án này còn có:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ: D khai nhận chiếc xe mô tô trên là của TA người Hà Nội, D không biết tên, tuổi, địa chỉ của Tường Anh, sau khi gây thương tích cho anh H, D không làm việc cho TA nữa nên đã trả chiếc xe trên cho TA. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau.
Đối với 02 con dao phóng lợn D và Tr dùng để chém anh H. Quá trình điều tra, D và Tr đều khai nhận khi thuê phòng trọ, D và Tr đã thấy 02 con dao ở trong phòng trọ, còn dao của ai D, Tr không biết.
Đối với hành vi dùng chân, tay đánh D của H và Th: Quá trình điều tra xác định D thương tích không nặng, D không đề nghị giám định thương tích, không đề nghị H, Thành phải bồi thường trách nhiệm dân sự. Vì vậy cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng biện pháp phạt tiền đối với H, Th là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Đỗ Khắc Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt truy nã 22/4/2019. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Xử phạt: Đỗ Khắc Tr 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/3/2019. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 287, 357, 584, 585, 587, 590 Bộ luật dân sự 2015.
Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thế H tổng số tiền là 85.711.400đ cụ thể:
Bị cáo Nguyễn Ngọc D phải bồi thường cho anh H số tiền là 50.000.000 đồng.
Bị cáo Đỗ Khắc Tr phải bồi thường cho anh H số tiền là 35.711.400 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên, nH không được vượt quá mức lãi suất qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Nếu không thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao phóng lợn loại dao có cán là tuýp sắt gắn mũi dao là dao chọc tiết lợn có kích thước: chiều dài dao là 170 cm, phần cán dao dài 148 cm, phần sống dao dài 22cm, mũi dao nhọn.
Tạm giữ số tiền 20.000.000đ của Đỗ Khắc Tr ( do bà Nguyễn Thị L) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.
Bị cáo Nguyễn Ngọc D phải chịu 200.000đ án phí HSST và 2.500.000đ án phí DSST.
Bị cáo Đỗ Khắc Tr phải chịu 200.000đ án phí HSST và 1.535.570 đ án phí DSST
Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - Bị cáo; - TANDtỉnh; - VKSND thị, tỉnh; - Công an thị xã TS; - Chi cục THADS thị xã TS; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà (đã ký, đóng dấu) Nguyễn Thị Thu H |