- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội «Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2018/HS - ST Ngày: 12/10/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Vũ văn Thang
Nghề nghiệp: Giáo viên đã nghỉ hưu
2. Ông Nguyễn Tùng Mậu
Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu Thư ký phiên tòa:
Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2018/HS-ST ngày 10/9/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2018/QĐXXST - HS ngày 01/10/2018 đối với bị cáo:
Đinh Văn T, sinh năm 1992; HKTT: Xóm X, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Tiên H và bà Bùi Thị Q; Tiền án: Ngày 23/9/2010, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản (bản án số 50/HSST); Tiền sự: không (Danh chỉ bản số 0316 lập ngày 09/7/2018 tại Công an huyện Thanh Trì); Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 08/7/2018; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội - có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Hoàng Hải N - Sinh năm 2002
Đại diện hợp pháp của anh N: Bà Nguyễn Thị Th - Sinh năm 1965 (là mẹ đẻ anh N).
Cùng địa chỉ: Tổ Y, Phường Q, thành phố H, tỉnh Hà Giang.
(anh N và bà Th vắng mặt tại phiên tòa)
NÁ ỤV GNUD IỘN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/7/2018, Đinh Văn T đi đến cửa hàng game N ở Thôn T1, xã T2, huyện T, Hà Nội thì phát hiện thấy một xe đạp điện màu đỏ đen nhãn hiệu Momemtium 133S của anh Hoàng Hải N (sinh năm 2002; cư trú tại: Tổ Y, phường Q, thành phố H, tỉnh Hà Giang) dựng trước cửa hàng, không khóa cổ, khóa càng. T đi đến chiếc xe quan sát thấy không có người trông giữ nên T đã ngồi lên xe dùng 2 chân đẩy xe đi được khoảng 5m thì bị nhân viên của quán Game N phát hiện, trình báo cơ quan công an giải quyết. Tổ công tác của Đồn Công an Cầu Bươu - Công an huyện Thanh Trì đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ chiếc xe và thu giữ của T 01 chùm chìa khóa gồm 5 chiếc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 136/KLĐG ngày 10/7/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thanh Trì kết luận: Chiếc xe đạp điện hiệu Momemtium 133Scó giá trị 4.200.000đồng.
Tại cơ quan điều tra, Đinh Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Momemtium 133S quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu là bà Nguyễn thị Th (mẹ đẻ anh Hoàng Hải N), giao cho anh N sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã trao trả cho bà Th. Bà Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Bản cáo trạng số 142/CT - VKSTT ngày 05/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Đinh Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bị cáo từ 10- 12 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Phần dân sự không xem xét;
- Tịch thu tiêu hủy chùm chía khóa gồm 5 chiếc thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng và Kết luận định giá có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/7/2018, tại khu vực Thôn T1, xã T2, huyện T, Hà Nội, Đinh Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Momemtium 133S của anh Hoàng Hải N, trị giá 4.200.000đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự trị an xã hội cần phải nghiêm trị, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo 01 tiền án (đã được xóa án tích).
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ». Xét bị cáo không có nghề nghiệp, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng:
- Chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Momemtium đã trao trả cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Th và anh Hoàng Hải N. Bà Th và anh N đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chùm chìa khóa gồm 05 chìa thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hạiđược kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội «Trộm cắp tài sản».
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 09 (chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 08/7/2018.
3. Về áp dụng biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy chùm chìa khóa gồm 05 chiếc có đầu bằng nhựa (hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Thanh Trì - biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2018)
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo :Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại (anh Hoàng Hải N do bà Nguyễn Thị Th là đại diện theo pháp luật) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân H. Thanh Trì, TP Hà Nội; - Công an huyện Thanh Trì, TP Hà Nội; - Cơ sở giam giữ; - Cơ quan Thi hành án hình sự H.Thanh Trì, Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Thanh Trì, Hà Nội; - Bị cáo. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hoài |